Chào các bạn, mời bạn quảng cáo banner tại đây kích thước 500x70 - giá mềm 700.000/tháng. liên hệ suckhoegd@gmail.com. Mr.Cường



| 0 tin nhắn ]


Nhờ một phát hiện có tính bước ngoặt mới đây, không lâu nữa, tình trạng cao huyết áp - nỗi lo của hàng trăm triệu người trên thế giới - sẽ được kiểm soát theo những cơ chế đơn giản như "tắt, bật" điện.

Theo Telegraph, các nhà khoa học Anh bước đầu đã tìm ra cơ chế gây tăng huyết áp ở người - nhờ thế họ hiểu được cơ thể kiểm soát huyết áp như thế nào, và vì sao mà quá trình này đôi khi bị rối loạn. Đây là một bước tiến có thể mang lại cách điều trị mới.

Nhóm khoa học từ Đại học Cambridge và Nottingham đã tìm ra điều này khi đang nghiên cứu chứng tiền sản giật - một tình trạng nguy hiểm do cao huyết áp gây ra ở các sản phụ.

Huyết áp trong cơ thể được hoóc môn có tên gọi angiotensins kiểm soát. Khi nồng độ của hoóc môn này quá cao, nó sẽ buộc các mạch máu co lại, làm tăng áp lực chảy máu trong mạch, tức là huyết áp.

Sau 20 năm nghiên cứu hoóc môn này, các nhà khoa học giờ đây tin rằng họ có thể tìm ra cách để kiềm chế không cho nó vượt quá mức, và từ đó kiểm soát được hiện tượng cao huyết áp.

"Chúng tôi đã tìm ra bước đầu tiên trong quá trình kiểm soát huyết áp", giáo sư Robin Carrell từ Đại học Cambridge, nói.

VNE

-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Bệnh viện Bạch Mai vừa công bố kết quả của phương pháp điều trị bệnh tăng huyết áp với chi phí thấp cho bệnh nhân nghèo. 

Theo đó, sau sáu tháng điều trị, 98,8% bệnh nhân được quản lý tốt. Trong 85 người bệnh nghèo được theo dõi và áp dụng phương pháp điều trị này, có đến 82% bệnh nhân kiểm soát được huyết áp với chi phí chỉ dưới 150.000 đồng/người/tháng. Đặc biệt, có đến 57% bệnh nhân chỉ phải chi trả cho phí điều trị ở mức dưới 50.000 đồng/tháng mà huyết áp vẫn được kiểm soát tốt.

Mức chi phí thấp này đã giúp người nghèo mắc bệnh tăng huyết áp có điều kiện được tiếp cận với dịch vụ y tế giá rẻ, thực hiện quyền được chữa bệnh. Bởi trên thực tế, người nghèo bị tăng huyết áp không được điều trị hiện chiếm tới trên 90%. Nguyên nhân là do thiếu kinh phí chi trả điều trị thường xuyên, lâu dài, mải kiếm tiền vì cuộc sống quá khó khăn nên thường tự ý bỏ điều trị, không tái khám hoặc chỉ điều trị khi thấy khó chịu, bệnh đã nặng hơn. 

Ngay trong nhóm bệnh nhân nghèo được lựa chọn nghiên cứu này cũng có đến 64% bệnh nhân trước đó chưa từng điều trị bệnh tăng huyết áp. 

(VNDOC 's Blog - Theo TT)


-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Một nghiên cứu mới cho rằng sữa không béo có thể giúp bảo vệ khỏi mắc chứng cao huyết áp - một nguy cơ ngày càng gia tăng nơi phụ nữ. 

Những phụ nữ uống nhiều sữa không béo hơn và hấp thụ nhiều canxi và vitamin D hơn từ thực phẩm, chứ không phải từ thuốc bổ sung, có ít nguy cơ mắc chứng cao huyết áp hơn, theo một nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Cao huyết áp của Hội Tim Hoa Kỳ.

Sau khi phân tích chế độ ăn uống của gần 30.000 phụ nữ tuổi trung niên và già hơn, các nhà nghiên cứu tại Đại học Harvard nhận thấy các phụ nữ nào tiêu thụ nhiều sữa ít béo và các sản phẩm sữa cũng như có chế độ ăn uống nhiều canxi và vitamin D hơn từ thực phẩm thì họ được bảo vệ tốt hơn khỏi bị mắc chứng cao huyết áp. 

Khi nghiên cứu các ích lợi của sữa cách đặc biệt, các nhà khoa học nhận thấy những phụ nữ uống từ hai suất sữa không béo trở lên/ngày giảm được nguy cơ bị cao huyết áp đến 10% so với những phụ nữ uống sữa không béo một lần/ tháng. Kết quả không như thế đối với những phụ nữ dùng nhiều sữa béo và các sản phẩm sữa cũng như các thuốc bổ sung canxi và vitamin D.

(VNDOC 's Blog - Theo TT)

-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Một phụ nữ bình thường khi mang thai có huyết áp bằng hoặc trên 140/90mm Hg được gọi là cao huyết áp. Nên đo sau nằm nghỉ 15 phút, đo hai lần cách nhau sáu giờ. 

Cao huyết áp có thể do nguyên nhân độc lập với tình trạng mang thai hoặc nguyên nhân do thai. Dù là nguyên nhân nào, cao huyết áp cũng là dấu hiệu của một thai kỳ nguy cơ cao có thể gây tử vong cho mẹ và con. Cao huyết áp có thể có sẵn trước lúc mang thai hoặc có sẵn và nặng thêm khi có thai, thậm chí chỉ xuất hiện khi có thai nếu đi kèm với phù và đạm niệu (có đạm trong nước tiểu) tạo nên một bệnh cảnh đặc biệt trong sản khoa gọi là hội chứng tiền sản giật - sản giật. 

Tiền sản giật thường gặp ở con so nhỏ tuổi hoặc con so lớn tuổi, xuất hiện ở tuần thứ 20 của thai kỳ, là nguyên nhân chính gây tử vong thai nhi, tử vong mẹ, thai chậm phát triển trong tử cung. Nguyên nhân chưa biết chính xác. Các yếu tố sau đây góp phần trong sự xuất hiện của tiền sản giật:

- Yếu tố di truyền.

- Yếu tố dinh dưỡng: dinh dưỡng kém hoặc mập phì. 

- Nghiện thuốc lá.

- Bệnh tim mạch.

- Bệnh mạch - thận.

- Tiểu đường.

Tiền sản giật có thể dự phòng hoặc giảm bớt biến chứng nhờ khám thai tốt, chú ý các yếu tố thuận lợi đưa đến tiền sản giật qua bệnh sử gia đình, bệnh sử nội khoa và bệnh sử thai kỳ lần này. Sản phụ cần khẩu phần ăn nhiều đạm, calo, không ăn mặn quá nhưng cũng không quá hạn chế muối và nước. Cần tuân thủ việc điều trị tiểu đường nghiêm ngặt hoặc các bệnh nội khoa khác đang có sẵn. Sản phụ có thể nghỉ ngơi tại nhà nếu bệnh nhẹ, tự đếm cử động thai, tự theo dõi các dấu hiệu trở nặng như phù tăng, lên cân nhanh, nhức đầu nặng, mắt nhìn mờ, đau vùng gan, buồn nôn, ói nhiều. 

Cần nhập viện ngay khi có một trong các dấu hiệu trên bởi thực tế lúc nào tiền sản giật biến thành sản giật khó đoán trước được. Nếu xảy ra sản giật, sản phụ có thể rơi vào hôn mê, phù não, xuất huyết não, phù phổi cấp, suy tim, bong nhau non gây tử vong cho mẹ và con.

Việc điều trị tùy thuộc phần lớn vào mức độ trầm trọng của bệnh và tuổi thai. Chủ yếu là hạ huyết áp, điều chỉnh các rối loạn về huyết học, chức năng gan, thận, cắt cơn giật nếu có. Có thể giúp sinh hoặc mổ lấy thai nếu cần chấm dứt nhanh thai kỳ. Đối với các sản phụ đã có biến chứng của cao huyết áp như tim to, suy tim, thiếu máu cơ tim, suy thận thì nên chấm dứt thai kỳ sớm vì bệnh chỉ mất đi khi không còn mang thai trong tử cung. 

Sau sinh 1-2 tuần, các triệu chứng của tiền sản giật và sản giật tự nhiên biến dần. Nếu huyết áp chậm trở về bình thường, cần tiếp tục điều trị nội khoa. 
(VNDOC 's Blog - Theo TT)
-->đọc tiếp...

| 1 tin nhắn ]




Cao huyết áp ở nước ta đã chiếm tới 10% dân số. Ngoài thuốc hạ áp cần uống và theo dõi thường xuyên thì ăn uống cũng là yếu tố quan trọng. 

* Cần tây: Từ thế kỷ thứ 16 ở châu Âu rau cần tây đã được sử dụng làm thuốc lợi tiểu, hạ huyết áp. Mua thứ còn tươi 300 g, rửa sạch, sục ozone chừng 15 phút rồi ép lấy nước uống. Nước ép cần tây có tác dụng làm giãn mạch, lợi tiểu nên hạ huyết áp êm ái, nhẹ nhàng.

* Cải cúc: Còn gọi là tần ô, thành phần chứa tinh dầu thơm, nhiều vitamin B1, vitamin C và vitamin A, có tác dụng thanh sáng đầu óc và sáng mắt. Những người cao huyết áp có đau đầu nên dùng nước ép rau cải cúc, ngày ba lần, mỗi lần 100 ml.

* Cà chua: Khi nói đến cà chua nhiều người biết đến chúng chứa lycopene có tác dụng phòng chống ung thư tuyến tiền liệt nếu ăn chín. Y học cổ truyền cho rằng cà chua có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lương huyết, bình can và giáng áp. Cà chua giàu vitamin C làm bền thành mạch và bêta carotene giúp sáng mắt, đẹp da. Nếu bạn ăn một ngày 300g cà chua sống giúp hạ huyết áp và phòng chống xuất huyết đáy mắt.

* Cà rốt: Là một loại củ di thực vào nước ta từ thời Pháp thuộc. Ngoài nước, cà rốt chứa lecithin là chất làm giảm cholesterol máu, chứa beta carotene là tiền chất của vitamin A, chứa pectin có tác dụng cầm tiêu chảy ở trẻ em. Với người cao huyết áp cà rốt làm mềm thành mạch và ổn định huyết áp. Dùng củ cà rốt tươi ép lấy nước uống mỗi lần 50ml, ngày ba lần sẽ rất hữu hiệu.

* Mộc nhĩ: Bà con phía Nam gọi là nấm mèo (mộc là gỗ, nhĩ là tai, là loại nấm có hình tai người). Theo y học hiện đại, mộc nhĩ trắng và đen có tác dụng tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể (đặc biệt là hệ thống miễn dịch tế bào), nâng cao năng lực tạo máu của tủy xương. Nó cũng giúp cải thiện chức năng của gan và thận, thúc đẩy quá trình tổng hợp protid trong gan, làm giảm cholesterol trong máu. Ngoài ra, mộc nhĩ trắng còn có tác dụng chống phù và chống phóng xạ ở một mức độ nhất định. Mộc nhĩ trắng 10g, mộc nhĩ đen 10g, hai thứ ngâm nước ấm cho nở hết rồi làm sạch, đem chưng cách thủy với nước và đường phèn, chia ăn hai lần. Dùng cho người bệnh tăng huyết áp, vữa xơ động mạch, rối loạn lipid máu...

* Tỏi: Ăn tỏi bổ sung được cả iod. Tỏi chứa kháng sinh alixin có tác dụng với nhiều loại vi khuẩn. Các nghiên cứu đều công bố rằng tỏi có tác dụng làm giảm mỡ và hạ huyết áp. Nếu bạn kiên trì ăn một ngày hai tép tỏi sống hoặc ngâm giấm đều có tác dụng bình ổn huyết áp.

* Nho: Rất tốt cho người cao huyết áp. Dùng nho khô hay nho tươi đều tốt vì nho chứa nhiều kali nên có công dụng hạ áp, lợi tiểu. Những người bị cao huyết áp có thể dùng rượu vang đỏ với điều kiện chỉ uống 1-2 chung nhỏ chứ không phải là uống ào ào như các đệ tử ruột của tửu quán.

Thực phẩm hạ áp còn phải kể đến trà râu bắp, hạt sen, ngó sen, củ cải, cải xanh, bắp cải, trà thảo quyết minh (hạt muồng), rau muống, trà xanh là những món có tác dụng lợi tiểu, làm giảm áp suất máu. 

Nếu bạn bị cao huyết áp, chộn rộn, khó ngủ có thể dùng 30 hạt sen tươi, nấu nhừ, không bỏ đường. Đây là chén thuốc vừa lợi tiểu làm giảm huyết áp vừa làm dịu thần kinh đưa bạn vào giấc ngủ êm mà sâu. Ăn uống hợp lý là một khâu quan trọng để tránh "bệnh từ miệng mà vô” không chỉ riêng bệnh cao huyết áp.

(VNDOC 's Blog - Theo TT)

-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Cao huyết áp là bệnh phải chữa suốt đời, không lúc nào được chủ quan ngừng nghỉ. Y học phương Đông lấy đả thông làm trọng nên các bài khí công từ lâu đã được coi trọng trong điều trị cao huyết áp. 

Tập khí công sẽ giúp thu lại dương khí từ thượng tiêu, tăng cường khí hạ tiêu giúp huyết áp hạ, người bệnh ăn ngon, ngủ tốt, hệ tuần hoàn cũng tốt lên. Tập kiên trì, khi thấy cảm giác từng hơi thở kết hợp được với sự lưu thông khí trong cơ thể theo các bài tập dưới đây thì không những có thể thuyên giảm mà còn có thể đẩy lùi cao huyết áp.

Trước khi tập, lưu ý phải giữ cho tâm bình, loại bỏ cảm xúc, giữ tư tưởng thoải mái, không mặc quần áo chật, tránh gió mạnh.

Bài 1 dành cho người mới tập, sức yếu: đứng hai chân bằng vai, thả lỏng toàn thân. Dùng ý niệm tưởng tượng khí huyết đang trở về huyệt dũng tuyền (ở phần lõm giữa bàn chân, cách mũi chân xuống một khoảng cách bằng 1/3 chiều dài bàn chân). Giữ ý thủ ở huyệt dũng tuyền giúp bài trừ khí hỏa bốc lên, tăng cường sự lưu thông khí huyết xuống phần dưới cơ thể. Bài này chỉ cần giữ ý thủ, hít ra thở vào đều. Thời gian tập 10 - 30 phút.

Bài tập 2 bổ sung các động tác giúp hạ huyết áp nhanh hơn. Đứng hai chân bằng vai, toàn thân thả lỏng, hai bàn tay đưa lên ngang ngực, lòng bàn tay hướng xuống đất, hai ngón tay giữa hướng vào nhau, lấy huyện đản trung làm trung tâm (huyệt này nằm giữa đầu núm vú).

- Thở ra: Từ từ đưa hai tay xuống như đang ấn một vật gì đó đến khi tay căng (không cúi) nhưng vẫn tưởng tượng khí trong thân thể đi xuống đan điền (dưới rốn khoảng 3cm) rồi thoát ra ngoài qua huyệt dũng tuyền. (ảnh 1-2)

- Hít vào: Lật hai bàn tay ngửa lên, hai ngón tay giữa chạm nhau và từ từ kéo hai tay lên ngực (ảnh 3). Tới huyệt đản trung dừng lại, tiếp tục xoay hai bàn tay úp xuống và lại thở ra đưa tay xuống (mỗi lần đẩy tay xuống và kéo tay lên là một lần - làm 36 lần).

Những người huyết áp thấp không nên tập bài này, còn lại các bệnh khác đều được.

(tuoitre)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Tập thể dục thể thao rèn luyện sức bền là một trong các phương pháp điều trị hữu hiệu đối với bệnh này. Tuy nhiên, bạn phải kiên trì vì huyết áp chỉ bắt đầu hạ xuống sau 5-6 tháng tập luyện thường xuyên.

- Huyết áp bình thường: 110/70-139/85 mmHg.
- Cao huyết áp độ 1: 140/90-160/95 mmHg.
- Cao huyết áp độ 2: 160/95-180/110 mmHg.
- Cao huyết áp độ 3: Trên 180/110 mmHg.
- Huyết áp bình thường: 110/70-139/85 mmHg.
- Cao huyết áp độ 1: 140/90-160/95 mmHg.
- Cao huyết áp độ 2: 160/95-180/110 mmHg.
- Cao huyết áp độ 3: Trên 180/110 mmHg.

Cơ sở sinh lý của rèn luyện sức bền ở bệnh nhân tăng huyết áp là điều hòa lượng cholesterol máu, kìm hãm xơ vữa động mạch, làm giãn và tăng tính đàn hồi của mạch máu trong các cơ hoạt động và giảm sức cản máu ngoại biên; kết quả là giảm huyết áp.

Chương trình tập luyện mang tính cá nhân, phụ thuộc vào mức độ tăng huyết áp và các yếu tố khác. Với những người có biểu hiện tăng huyết áp độ 1, 2, các phương pháp hữu hiệu làm giảm huyết áp gồm:

- Đi bộ nhanh: Tùy theo tình trạng sức khỏe, người bệnh có thể đi bộ nhanh với tốc độ khác nhau, có thể đạt 5-6 km/giờ, tần số mạch tập luyện đạt khoảng 120-125 nhịp/phút. Tập hằng ngày, mỗi buổi 40-60 phút. Khi đã đi bộ nhanh quen và không khó nhọc nữa thì chuyển sang chạy bước nhỏ.

- Chạy sức khỏe: Giai đoạn này thường kéo dài khoảng 8-12 tuần. Có thể áp dụng phương pháp tập luân phiên giữa đi bộ nhanh và chạy. Cần tăng dần thời gian chạy đến 20-30 phút/buổi, duy trì tốc độ ổn định trong suốt buổi chạy. Phải tập chạy thường xuyên 3 buổi/tuần, giữa hai buổi tập phải có giai đoạn nghỉ ngơi và phục hồi, thường là 48-72 giờ.

Trước khi chạy, phải tiến hành khởi động các cơ, khớp và cơ thể trong khoảng 5-7 phút. Giai đoạn tập luyện chính là 15-30 phút, tùy trạng thái sức khỏe. Cuối buổi tập chuyển sang đi bộ và sau đó là thực hiện một số bài tập thở.

Tốt nhất là tập vào buổi sáng sau khi ngủ dậy và buổi chiều sau giờ làm việc. Tránh tập lúc vừa ăn no hoặc quá đói, mùa hè nên tập vào buổi sáng cho mát. Những bệnh nhân có huyết áp tăng quá 160/90 mmHg thì phải kết hợp dùng thuốc hạ huyết áp (uống thuốc trước khi tập 15-30 phút).

- Tập trên xe đạp lực kế: Rất phù hợp cho những bệnh nhân dưới 45 tuổi, tăng huyết áp độ 1, huyết áp có khả năng trở về bình thường mà không phải dùng thuốc. Tốc độ và cường độ luyện tập theo chỉ định của thầy thuốc.

Những bệnh nhân tăng huyết áp độ 3 cần được điều trị ổn định bằng thuốc, sau đó mới tiến hành chương trình tập luyện bằng các bài tập đi bộ nhanh tốc độ 3-5 km/giờ, 20-30 phút/buổi, kết hợp các bài tập thở. Sau một số tuần, có thể tăng tốc độ hoặc quãng đường đi bộ. Khi có biểu hiện suy tim thì chống chỉ định hoàn toàn với tập luyện, bệnh nhân chỉ đi dạo, hít thở không khí trong lành.
(Sức Khỏe & Đời Sống)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Một số thao tác như vuốt ấm vành tai, vuốt dọc hai bên mũi... có thể ngăn nguy cơ tai biến về não trước khi bệnh nhân được bác sĩ chăm sóc.

Tăng huyết áp là tình trạng chỉ số huyết áp đo được bằng hoặc lớn hơn 140/90 mmHg, có thể gây tai biến mạch máu não nếu không được điều trị kịp thời. Những thao tác đơn giản sau có thể làm giảm huyết áp khi có cơn, nhưng chỉ áp dụng cho các trường hợp nhẹ chưa có biến chứng.

Vuốt ấm hai vành tai

Dùng ngón cái và ngón trỏ vuốt dọc vành tai từ trên xuống dưới khoảng 9-10 lần. Vành tai và cột sống có những điểm phản xạ tương ứng với nhau, do đó vuốt ấm vành tai cũng là tác động vào cột sống lưng, vừa có tác dụng điều hòa thần kinh giao cảm, vừa kích thích sự lưu thông khí huyết.

Nếu có người bên cạnh, có thể nhờ họ ngồi sau lưng, dùng bàn tay phải vuốt dọc sống lưng từ trên gáy xuống eo để tăng tác dụng.

Vuốt dọc hai bên mũi

Mỗi bàn tay vuốt một bên mũi. Dùng ngón tay trỏ vuốt từ huyệt ấn đường (điểm giữa hai đầu chân mày) xuống dọc theo hai bên mũi qua khóe miệng đến tận chót cằm. Vuốt chậm, nhẹ 15-20 lần.

Việc kích thích huyệt ấn đường làm phóng thích endorphine nội sinh, giúp an thần, hạ huyết áp và giáng khí. Vuốt dọc theo hai bên mũi xuống cằm làm tăng sự lưu thông khí huyết, gây ấm người và làm nhẹ áp lực ở phần đầu.

Vuốt dọc hai chân mày

Dùng hai ngón tay trỏ và giữa vuốt từ ấn đường, đi dài theo chân mày ra thái dương, đến tận chân tóc ở phía ngoài đuôi mắt, mỗi bên khoảng 10 lần. Vùng chân mày và hai cánh tay có những điểm phản xạ tương ứng nhau. Do đó động tác này giải tỏa sự sung huyết tại những huyệt vị hay bị tắc nghẽn ở vùng trán, làm cho khí huyết lưu thông ra hai cánh tay và bàn tay, giúp giảm nhẹ áp lực ở đầu.

Ngồi hoặc nằm thư giãn, tập trung vùng đan điền

Theo y học cổ truyền, thần ở đâu khí ở đó. Do đó khi tập trung ý nghĩ tại vùng đan điền, khí trong cơ thể từ phía trên đầu sẽ lưu chuyển xuống dưới nên có tác dụng hạ khí. Việc tập trung tư tưởng càng tốt, hiệu quả hạ khí càng cao. Động tác này cần kéo dài hơn 10 phút.

Mỗi khi cảm nhận được những dấu hiệu tăng huyết áp như căng, nặng ở vùng thái dương, đau đầu, mờ mắt, mắt đỏ hay trong người thấy bực tức vô cớ, ngực sườn đầy tức..., người bệnh nên ngồi xuống, áp dụng lần lượt 4 động tác trên. Bình tĩnh và tự tin là yếu tố cần thiết trong quá trình thực hiện. Sau khoảng 15 phút thực hành, bệnh nhân có thể cảm thấy bớt khó chịu ở vùng đầu, nhịp đập của tim chậm lại, tay chân ấm lên. Đó là lúc huyết áp đã hạ bớt.
(Theo VNExpress)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]






-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Bệnh nhân cảm thấy như thế nào khi bị huyết áp cao ?

Huyết áp cao đơn giản thường không triệu chứng. Vì vậy cao huyết áp được mệnh danh là "kẻ giết người thầm lặng ". Nói cách khác, bệnh này có thể diễn tiến thầm lặng, không triệu chứng cho đến khi xuất hiện biến chứng chết người. Thật vậy, huyết áp cao không phức tạp có thể tồn tại lặng lẽ nhiều năm thậm chí hàng chục năm. Ðiều này xảy ra khi không có triệu chứng và chỉ được phát hiện qua tầm soát huyết áp định kỳ.

Tuy nhiên, vài người bi cao huyết áp không phức tạp có những triệu chứng kinh nghiệm như: nhức đầu, chóng mặt, thở ngắn và nhìn mờ đi, ruồi bay trước mắt. Sự hiện diện các triệu chứng này có thể chỉ điểm để người ta đi khám bác sĩ nhằm điều trị và dễ dàng trong việc sử dụng thuốc.

Tuy nhiên, không phải là không thường xuyên, có người đến bác sĩ đầu tiên vì đã có tổn thương ở cơ quan. Trong nhiều trường hợp, người ta đến khám, được đưa đến bác sĩ hay phòng cấp cứu với suy tim, đột quỵ, suy thận hay giảm thị lực (do tổn thương phần sau của võng mạc). Nhận thức cộng đồng cao hay tầm soát huyết áp thường xuyên có thể phát hiện những bệnh nhân huyết áp cao không được chẩn đoán trước khi có biến chứng.

Khoảng 1% dân số huyết áp cao được chẩn đoán là cao huyết áp nặng ngay lần đầu đến khám (cao huyết áp ác tính). Những bệnh nhân này, huyết áp tâm trương vượt quá 140mmHg. Người bệnh thường bị đau đầu nhiều, ói mửa, triệu chứng về thị giác, chóng mặt, đôi khi suy thận. Cao huyết áp ác tính là 1 cấp cứu y khoa và đòi hỏi điều trị khẩn cấp nhằm ngăn chặn đột quỵ (tổn thương não).

Như đã lưu ý, cao huyết áp mãn tính có thể dẫn đến lớn tim, suy thận, tổn thương não hay thần kinh và thay đổi võng mạc. Kiểm tra mắt ở bệnh nhân cao huyết áp nặng có thể phát hiện ra hẹp hay xuất huyết ở động mạch nhỏ tại võng mạc, phù gai thị. Từ kiểm tra này, bác sĩ có thể phân độ nặng cao huyết áp dựa trên mức độ tổn thương võng mạc.

Như đã ghi nhận từ trước , những người cao huyết áp tăng độ cứng, hay kháng lực mạch ngoại biên khắp các mô cơ thể. Kháng lực này tăng làm cho cơ tim làm việc nặng hơn để bơm máu qua mạch máu đó. Tình trạng tăng hoạt động này làm cho tim quá tải dẫn đến rối loạn, thường đầu tiên là lớn tim. Tim to có thể đánh giá bằng X-quang, điện tâm đồ hay chính xác nhất là siêu âm tim. Siêu âm tim đặc biệt có lợi trong việc xác định độ dày tim trái. Tim lớn có lẽ là dấu hiệu báo trước của suy tim, bệnh mạch vành hay rối loạn nhịp. Ðiều trị đúng đắn cao huyết áp và biến chứng của nó có thể khắc phục được những bất thường trên.

Xét nghiệm máu và nước tiểu có lẽ hữu dụng trong việc dò tìm bất thường tại thận ở người cao huyết áp (Nên nhớ là tổn thương ở thận có thể là nguyên nhân và cả hậu quả của cao huyết áp). Ðịnh lượng Creatinine huyết thanh có thể khảo sát được chức năng thận. Nồng độ Creatinine cao bất thường cho thấy có tổn thương chức năng thận.

Ngoài ra, sự xuất hiện proteine trong nước tiểu (tiểu đạm) có thể phản ánh tổn thương thận mãn tính do cao huyết áp, ngay khi chức năng thận (qua creatinine máu ) vẫn bình thường. Thật vậy, proteine trong nước tiểu báo hiệu nguy cơ suy giảm chức năng thận nếu huyết áp không được điều chỉnh. Ngay cả lượng nhỏ proteine (microalbuminuria) cũng là dấu hiệu đe doạ suy thận do huyết áp cao không kiểm soát. Những bệnh nhân da đen có huyết áp cao kiểm soát kém có nguy cơ tổn thương cơ quan đích và thận cao hơn người da trắng.

Huyết áp cao không kiểm soát có thể dẫn đến tổn thương não hay thần kinh bởi cơn đột quỵ. Ðột quỵ thường do xuất huyết hay huyết khối ở mạch máu nuôi não. Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh nhân (tìm thấy qua khám lâm sàng ) đánh giá tổn thương thần kinh. Một cơn đột quỵ có thể gây ra suy yếu, ù tai, liệt tay hay chân hoặc khó phát ngôn hay thị giác. Nhiều cơn đột quỵ nhỏ có thể gây mất trí nhớ. Phòng ngừa tốt nhất cho biến chứng này hay bất kỳ biến chứng nào là kiểm soát tốt huyết áp.

Cách sống như thế nào có lợi cho điều trị cao huyết áp?

Thay đổi cách sống, ý nhắc đến thay đổi chế độ ăn và luyện tập. Thay đổi này làm hạ huyết áp cũng như cải thiện được đáp ứng của bệnh nhân đối với thuốc. Chế độ ăn kiêng bao gồm hạn chế muối và rượu và giảm cân nếu người bệnh bị béo phì. Hiệp hội tim mạch Mỹ khuyến cáo rằng tiêu thụ muối <6gram/ngày đối với dân số chung và thấp hơn (<4 gram) đối với những người cao huyết áp. Thực hiện chế độ ăn ít muối <4 gram tức là ta không nên thêm muối vào thức ăn hay lúc nấu nướng. Cũng vậy, lượng muối trong thức ăn cần được ước lượng theo nhãn mác của các thực phẩm mua sẵn.

Béo phì thường gặp ở bệnh nhân cao huyết áp và tính phổ biến của nó tăng dần theo tuổi. Thật vậy, béo phì là yếu tố quyết định tăng tỉ lệ mới mắc cao huyết áp theo tuổi. Béo phì có thể góp phần làm tăng huyết áp theo nhiều cách. Một cách là béo phì làm tăng cung lượng tim vì tim phải bơm lượng máu nhiều hơn để cung cấp cho mô thừa. Cung lượng tim tăng này làm tăng huyết áp. Cách khác, những người cao huyết áp béo phì có kháng lực ngoại biên cao hơn ở khắp cơ thể.

Cuối cùng, béo phì có thể kết hợp với việc thận giữ muối. Giảm cân có thể giúp phục hồi lại những vấn đề liên quan béo phì đồng thời cũng giảm áp. Người ta đánh giá là huyết áp có thể giảm 0.32mmHg cho mỗi kilogram (2.2pounds) cân nặng giảm đi.

Vài người béo phì, đặc biệt là những người rất mập, có hội chứng ngưng thở lúc ngủ. Hội chứng này có đặc điểm ngưng tạm thời nhịp thở bình thường trong lúc ngủ. Ngưng thở lúc ngủ có thể góp phần phát triển huyết áp cao trong phân nhóm những người béo phì này. Ðiều này xảy ra vì các giai đoạn của ngưng thở lặp lại làm thiếu Oxy. Rồi tình trạng thiếu Oxy này kích thích thận phóng thích adrenalin và các thành phần liên quan. Cuối cùng, Adrenalin và các thành phần này làm tăng huyết áp.

Một chương trình luyện tập thể lực đều đặn có thể làm hạ huyết áp trong tương lai xa. Ví dụ hoạt động như chạy bộ, chạy xe đạp hay bơi lội trong 30-45 phút có thể làm giảm huyết áp xuống 5-15mmHg. Ngoài ra có một mối liên hệ giữa lập luyện với mức độ huyết áp hạ thấp. Do đó, bạn càng tập luyện, bạn càng hạ thấp huyết áp. Ðáp ứng có lợi của huyết áp đối với tập luyện chỉ xảy ra với chương trình aerobic (sôi nổi và duy trì liên tục ). Vì thế bất cứ chương trình tập luyện nào phải được đề nghị và đồng ý bởi bác sĩ điều trị.

Mục tiêu điều trị cao huyết áp là gì?

Nên nhớ là cao huyết áp thường tồn tại nhiều năm trước khi xuất hiện biến chứng. Vì vậy có ý kiến là điều trị cao huyết áp sớm trước khi nó gây tổn thương các cơ quan chính của cơ thể. Do đó, chương trình tầm soát và nâng cao ý thức cộng đồng để phát hiện sớm cao huyết áp đơn giản là chìa khoá của điều trị thành công. Ðiểm chính là ngoài điều trị cao huyết áp thành công, bạn có thể giảm được nguy cơ đột quỵ, suy tim, và suy thận.

Mục tiêu của người bệnh cao huyết áp tâm thu và tâm trương kết hợp là giữ huyết áp 140/85 mmHg. Giữ huyết áp thấp hơn, như đã lưu ý là mong muốn của bệnh nhân da đen và bệnh nhân tiểu đường hay suy thận mãn.

Ðiều trị cao huyết áp bắt đầu như thế nào?

Huyết áp hằng định cao hơn 140/85mmHg được điều trị bằng thay đổi cách sống và thuốc. Tuy nhiên, nếu huyết áp tâm trương giữ ở ngưỡng (thường <90mmHg nhưng >85mmHg) thì trong vài trường hợp, điều trị nên bắt đầu. Những trường hợp này là huyết áp tâm trương giới hạn kết hợp với tổn thương cơ quan đích, cao huyết áp tâm thu, hay những yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch như tuổi>65, da đen, hút thuốc, tăng lipid máu hay tiểu đường.

Bất kỳ nhóm thuốc nào cũng có thể sử dụng khởi đầu, ngoại trừ ức chế alpha. Thuốc ức chế alpha chỉ được dùng kết hợp với thuốc hạ áp khác trong một chỉ định y khoa cụ thể (Xem phần tiếp theo để biết rõ các thuốc hạ áp ).

Trong vài tình huống đặc biệt, vài loại thuốc hạ áp thích hợp hơn những loại thuốc đầu tay. Ví du, thuốc ức chế men chuyển (ACE ) và ức chế thụ thể (ARB) là thuốc được lựa chọn cho bệnh nhân có suy tim, suy thận mãn (có tiểu đường hay không tiểu đường) hay nhồi máu cơ tim, những bệnh làm giảm chức năng co bóp của cơ tim. Cũng vậy, ức chế bêta đôi khi thích hợp điều trị ở bệnh nhân cao huyết áp có kèm nhịp nhanh lúc nghỉ hay nhồi máu cơ tim cấp.

Bệnh nhân cao huyết áp đôi khi tồn tại song song một bệnh thứ 2. Trong trường hợp này, loại thuốc hạ áp đặc biệt hay các loại thuốc kết hợp có thể được chọn lựa trong điều trị ban đầu. Mục đích điều trị trong những trường hợp này là điều trị cao huyết áp đồng thời cũng có lợi cho bệnh thứ 2. Ví dụ, ức chế bêta có thể chữa trị lo lắng mãn tính hay đau đầu Migrain cũng như cao huyết áp. Cũng vậy, ức chế ACE hay thuốc ARB có thể được dùng để điều trị một vài bệnh lý tại cơ tim hay bệnh lý tại thận cũng tốt như trị cao huyết áp.

Trong vài tình huống khác, vài loại thuốc hạ áp khác không nên dùng. Ví dụ, thuốc non-dihydropyridine, một dạng của nhóm ức chế kênh Calcium không nên dùng ở bệnh nhân có suy tim hay rối loạn nhịp. Với ý định khác nữa, những loại thuốc này có thể hữu dụng trong điều trị vài rối loạn nhịp khác. Cũng vậy, vài loại thuốc như clonidine và minoxidil rất mạnh, thường được hạ 2-3 bậc khi điều trị. Nghĩa là chúng chỉ được dùng sau khi tất cả những thuốc đầu tay khác thất bại. Cuối cùng, xem thêm phần dưới dành cho thai kỳ về thuốc hạ áp thích hợp và không thích hợp cho phụ nữ có thai.

Khi nào dùng điều trị kết hợp?

Sử dụng phối hợp thuốc hạ áp không phải là không phổ biến. Ðôi khi sử dụng một lượng nhỏ của một hay nhiều chất kết hợp có thể là giảm tối thiểu tác dụng phụ trong khi lại làm tăng cường hiệu quả hạ áp. Ví dụ, thuốc lợi tiểu có thể dùng đơn độc nhưng thường sử dụng liều thấp kết hợp với các thuốc hạ áp khác. Trong trường hợp này, thuốc lợi tiểu có ít tác dụng ngoại ý nhưng lại tăng cường tác dụng hạ áp của thuốc khác. Thuốc lợi tiểu cũng được dùng kèm với thuốc hạ áp khác trong trường hợp bệnh nhân cao huyết áp có giữ nước và phù.

Thuốc ức chế ACE hay ức chế thụ thể Angiotensin có lợi khi kết hợp với hầu hết các thuốc hạ áp khác. Một cách phối hợp khác là ức chế bêta với ức chế alpha ở bệnh nhân cao huyết áp có kèm phì đại tiền liệt tuyến để điều trị cùng lúc cả 2 bệnh. Tuy nhiên, cần thận trọng khi kết hợp cả 2 loại thuốc làm giảm nhịp tim. Ví dụ, ức chế bêta với ức chế kênh Calcium non-dihydropyridine (diltiazem và verapamil) phải hết sức cẩn thận. Bệnh nhân điều trị 2 nhóm thuốc này cần được theo dõi monitor để tránh nhịp tim giảm quá mức.

Khi nào dùng điều trị kết hợp?

Sử dụng phối hợp thuốc hạ áp không phải là không phổ biến. Ðôi khi sử dụng một lượng nhỏ của một hay nhiều chất kết hợp có thể là giảm tối thiểu tác dụng phụ trong khi lại làm tăng cường hiệu quả hạ áp. Ví dụ, thuốc lợi tiểu có thể dùng đơn độc nhưng thường sử dụng liều thấp kết hợp với các thuốc hạ áp khác. Trong trường hợp này, thuốc lợi tiểu có ít tác dụng ngoại ý nhưng lại tăng cường tác dụng hạ áp của thuốc khác. Thuốc lợi tiểu cũng được dùng kèm với thuốc hạ áp khác trong trường hợp bệnh nhân cao huyết áp có giữ nước và phù.

Thuốc ức chế ACE hay ức chế thụ thể Angiotensin có lợi khi kết hợp với hầu hết các thuốc hạ áp khác. Một cách phối hợp khác là ức chế bêta với ức chế alpha ở bệnh nhân cao huyết áp có kèm phì đại tiền liệt tuyến để điều trị cùng lúc cả 2 bệnh. Tuy nhiên, cần thận trọng khi kết hợp cả 2 loại thuốc làm giảm nhịp tim. Ví dụ, ức chế bêta với ức chế kênh Calcium non-dihydropyridine (diltiazem và verapamil) phải hết sức cẩn thận. Bệnh nhân điều trị 2 nhóm thuốc này cần được theo dõi monitor để tránh nhịp tim giảm quá mức.

Khi nào cần điều trị cấp cứu ?

Ở bệnh viện, thuốc tiêm tĩnh mạch có thể dùng điều trị cấp cứu cao huyết áp . Loại thường dùng nhất là Sodium Nitroprusside (Nipride) và Labetalol (Normadyne). Như đã đề cập, điều trị thuốc cấp cứu có thể dùng ở bệnh nhân cao huyết áp ác tính.

Ngoài ra, điều trị cấp cứu cũng cần thiết ở bệnh nhân cao huyết áp có suy tim sung huyết cấp tính, phình tách động mạch chủ, đột quỵ và nhiễm độc thai nghén.

-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Bác sĩ (BS) Lý Huy Khanh - phó phòng kế hoạch tổng hợp, Bệnh viện (BV) cấp cứu Trưng Vương (TP.HCM) - cho biết tại BV số bệnh nhân (BN) tăng huyết áp (THA) nằm điều trị nội trú đứng hàng đầu trong các loại bệnh, với tổng số 2.255 lượt BN trong năm 2005.

Theo y văn, THA có thể làm giảm tuổi thọ của con người 10-20 năm. Tỉ lệ mắc bệnh THA khoảng 10-25% dân số, tùy địa phương.

Có và không triệu chứng báo hiệu

Ngày 4-5, chúng tôi đến khoa tim mạch BV cấp cứu Trưng Vương. Khoa có khoảng 60 giường bệnh, nhưng một số người phải nằm ngoài hành lang vì BN đông. BN Nguyễn Quang Hòa (60 tuổi, Q. Tân Phú, TP.HCM) cho biết ông tình cờ biết mình bị THA trong một lần đi khám bệnh phổi ở BV Phạm Ngọc Thạch.

BS khuyên đến BV Trưng Vương điều trị. Thế nhưng đi khám bệnh được ba lần thì ông thôi và tự ra nhà thuốc mua “viên đỏ đỏ”, có giá rất rẻ (khoảng 250đ/viên) về uống theo hướng dẫn của người… hàng xóm. Mỗi khi thấy khó chịu, chóng mặt ông uống một hoặc hai viên.

Uống thuốc được nửa năm, thấy huyết áp không tăng nữa, ông bỏ luôn vì nghĩ đã hết bệnh. Ngày 1-5, ông thấy khó chịu trong người, tay chân cảm giác tê rần. Ông đi phòng mạch tư khám bệnh, đo huyết áp tăng đến 200/120mmHg. BS cho thuốc uống hai ngày không thấy bớt, ông vội vàng đến BV.

Ông Hòa cho biết ông hút thuốc khi mới 10 tuổi, đến nay đã 50 năm. Mỗi ngày ông hút từ 1-1,5 gói thuốc và mới bỏ cách đây… mấy ngày. Tuy bị THA nhưng ông bảo: “Tôi vẫn ăn uống tùm lum hết”.

Theo BS Nguyễn Văn Phòng, trưởng khoa tim mạch BV Trưng Vương, khi bị THA BN thường có các triệu chứng: nhức đầu phía sau gáy hay trước trán, thường vào buổi sáng, đôi khi kéo dài cả ngày; chóng mặt: cảm giác đi đứng không vững và hơi nặng đầu; mệt: cảm giác nặng ở ngực và hơi khó thở; đôi khi chỉ biểu hiện là chảy máu cam.

Tuy nhiên, các triệu chứng này chỉ là gợi ý vì có những trường hợp BN THA rất cao (200/100mmHg) nhưng hoàn toàn không có triệu chứng nào, chỉ tình cờ phát hiện khi đo huyết áp. Cũng chính vì không triệu chứng mà THA được mệnh danh là “kẻ giết người thầm lặng”.

THA nếu không được điều trị đúng có thể gây ra rất nhiều biến chứng nguy hiểm cho tính mạng BN. Biến chứng thường gặp nhất là BN bị đột quị (tai biến mạch máu não). Nếu nhẹ, BN bị yếu liệt nửa người, nói đớ; nếu nặng, té quị, hôn mê, tử vong.

Ba sai lầm cần tránh

Khi bị THA, BN gần như phải dùng thuốc suốt đời để đưa huyết áp về dưới mức 140/90mmHg. Khi dùng thuốc phải tuân thủ theo hướng dẫn của bác sĩ, tái khám đúng kỳ hẹn. BS Phòng lưu ý đa số người bệnh bị THA hay mắc phải ba sai lầm là: tự mua thuốc hạ huyết áp để uống; chỉ chữa bệnh khi huyết áp tăng cao và ngừng thuốc khi huyết áp về bình thường; uống lâu dài với một toa thuốc mà không tái khám để đánh giá lại tình trạng bệnh.

Ngoài việc điều trị bằng thuốc, BS Phòng khuyên BN cần phải chú ý đến các biện pháp điều trị không dùng thuốc. Cụ thể, nếu bị béo phì, nên áp dụng chế độ ăn giảm cân: ít đường, ít mỡ, nhiều chất đạm và chất xơ rau quả, trái cây như ăn nhiều cải cúc, rau muống, cà chua, cà rốt, nấm hương và nấm rơm, tỏi, hành tây, đậu hà lan, đậu xanh, sữa đậu nành, dưa hấu, dưa leo, táo, lê, nho, chuối.

Nên ăn lạt, không ăn quá một muỗng cà phê muối mỗi ngày, bao gồm cả lượng muối được nêm trong thức ăn và nước chấm. Nên ăn chất đạm có nguồn gốc từ cá và thực vật hơn là các loại thịt heo, bò, gà. Không nên ăn lòng đỏ trứng, gan (heo, bò, dê...), não động vật. Không nên ăn quá ngọt ngay cả khi không bị tiểu đường, không ăn mỡ động vật và dầu dừa.

Tránh dùng dưa, cà muối mặn, cà phê, thuốc lá, các gia vị kích thích. Nên dùng dầu ôliu, dầu mè, dầu đậu nành. Ngừng hoặc hạn chế uống rượu, bỏ hẳn hút thuốc lá. Giữ nếp sống, sinh hoạt điều độ, tránh trạng thái căng thẳng, xúc động, lo âu, luôn giữ tinh thần lạc quan, vui vẻ. Rèn luyện thân thể thường xuyên: tập thể dục đều đặn ít nhất 45 phút/ngày, ba lần/tuần là góp phần trong việc điều trị và tạo thói quen tốt trong cuộc sống.

(Theo Tuổi Trẻ)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

BLOG SUC KHOE

Luyện tập

Tích cực hoạt động và luyện tập ít nhất 3 lần/ tuần, chắc chắn sẽ giúp giảm huyết áp. Bài tập có thể đơn giản như đi bộ 30 phút. Thực tế đi bộ là cách mà mọi người có thể tập luyện mà không làm bạn ra nhiều mồ hôi và mệt mỏi như ở phòng tập.

Các bác sĩ đều công nhận rằng thiếu luyện tập là nguyên nhân số một của chứng lên máu và cao huyết áp.

Giảm béo

Đây là cách chúng ta đều biết đến nhưng trong một số trường hợp giảm cân quá mức lại dẫn tới huyết áp thấp. Khi bạn kết hợp giảm cân với tập luyện đúng cách thì bạn đã đi con đường đúng cho một cuộc sống khỏe mạnh hơn.

Tuy như thế, bạn hãy luôn nhớ khi bắt đầu giảm cân với chương trình luyện tập thì sự điều độ là chìa khóa của vấn đề. Hãy bắt đầu một cách từ từ và tập luyện chăm chỉ. Không chỉ vì kết quả hiện tại trước mắt mà còn ngăn ngừa những vấn đề xấu cho sức khỏe sau này.

Giảm muối

Giảm bớt lượng muối ăn hàng ngày sẽ giúp huyết áp thấp hơn. Muối và chứng cao huyết áp là bạn đồng hành, ăn nhiều muối làm tăng lượng nước tích trữ trong cơ thể do đó làm tăng huyết áp.

Rượu và thuốc lá

Có hai cách để huyết áp tăng là hút thuốc và uống rượu. Rượu đặc biệt nguy hiểm với huyết áp của bạn, ngay cả khi bạn uống ít đi chăng nữa.

Nếu nghi ngờ mình bị cao huyết áp, nên đến gặp bác sĩ càng sớm càng tốt. Chỉ có họ mới xác định được bạn có nên dùng thuốc điều trị hay không hay hướng dẫn bạn từng bước điều chỉnh huyết áp.

(Theo ezinearticles)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Ăn uống lành mạnh giúp giảm nguy cơ tăng huyết áp và giảm chi phí thuốc men cũng như giúp thuốc tăng huyết áp tác dụng tốt hơn. Đó cũng là chủ đề Ngày Tăng huyết áp Thế giới năm 2007.

Ngày Tăng huyết áp Thế giới do Liên đoàn Tăng huyết áp Thế giới khởi xướng, bắt đầu năm 2005 vào ngày thứ bảy tuần thứ hai của tháng 5 (năm 2005 và 2006) và vào thứ năm tuần thứ hai (năm 2007, tức ngày 17-5) nhằm thức tỉnh thầy thuốc, chính quyền và cộng đồng mối hiểm họa do tăng huyết áp và hướng dẫn cách phát hiện, phòng ngừa và điều trị tăng huyết áp.

Ngày Tăng huyết áp Thế giới 14-5-2005 có 24 nước tham gia, Ngày Tăng huyết áp Thế giới 13-5-2006 có 80 nước tham gia.

Ngày Tăng huyết áp Thế giới 17-5-2007 có chủ đề “Ăn uống lành mạnh, huyết áp khỏe mạnh”. Tại Việt Nam, Chương trình Phòng chống Bệnh tim mạch có trụ sở tại Bệnh viện Nguyễn Trãi thuộc Sở Y tế TP.HCM đã tổ chức hội thảo chuyên đề “Ngày Tăng huyết áp Thế giới 2007” tại Bệnh viện Nguyễn Trãi ngày 11-5-2007 với đại diện chuyên môn của 24 quận huyện và các tổ chức liên quan.

Cách thức ăn uống khỏe mạnh

- Ăn ít muối < 6 g/ngày (tương đương một muỗng canh).

- Ăn nhiều trái cây tươi, rau xanh, ít mỡ, chất xơ dễ tiêu, ngũ cốc, đạm từ thực vật có ít chất béo bão hòa, cholesterol.

- Uống rượu bia ít và điều độ. Nếu người uống được rượu bia thì hàng tuần nam uống ít hơn 14 “cữ” và nữ ít hơn 9 “cữ”. Một “cữ” (drink) là 341 ml bia (5% độ cồn) hoặc 120 ml rượu vang (12% độ cồn), hoặc 43 ml rượu mạnh 40 độ.

Việt Nam là đất nước bốn mùa hoa trái, rất phù hợp với cách thức ăn uống khỏe mạnh này nhằm đạt mức huyết áp khỏe mạnh là 115/75 mm Hg ở người bình thường và nhỏ hơn 140/90 mm Hg ở người bị tăng huyết áp. Ăn uống khỏe mạnh cũng là một trong những cách ngăn “bệnh từ miệng ăn vào”.

(Theo Tuổi trẻ)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]



-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]



-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Giới thiệu về cao huyết áp

Sự tăng huyết áp tâm thu hay huyết áp tâm trương làm tăng nguy cơ bệnh tim, bệnh thận, làm nặng thêm bệnh lý mạch máu, tổn thương mắt, đột quị (tổn thương não).

Những biến chứng của cao huyết áp thường tác động đến cơ quan đích vì tổn thương những cơ quan này là kết quả cuối cùng của tình trạng áp lực máu cao kéo dài.

Do đó, chẩn đoán huyết áp cao ở một cá nhân rất quan trọng để cố gắng giữ huyết áp mức bình thường, và bằng cách đó, ngăn ngừa các biến chứng.

Huyết áp được đo như thế nào?

Áp lực máu được đo bằng dụng cụ nhỏ, gọn gọi là huyết áp kế. Huyết áp kế cơ bản bao gồm 1 bơm khí, 1 đồng hồ đo áp lực, và 1 túi hơi. Dụng cụ này ghi nhận huyết áp bằng đơn vị gọi là mmHg (milimet thuỷ ngân)

Túi hơi được bao lấy cánh tay và bơm phồng lên đến 1 áp lực có thể cản trở dòng máu ở động mạch chính (ÐM cánh tay) đi qua cánh tay. Sau đó, xả áp lực trong túi hơi và trên ÐM giảm dần. Khi áp lực giảm dần, nhân viên y tế sẽ nghe bằng ống nghe ngay trên ÐM ở khuỷu tay. Áp lực mà nhân viên y tế nghe mạch lần đầu là huyết áp tâm thu. Khi áp lực túi hơi giảm hơn nữa,áp lực tại đó mạch ngưng là huyết áp tâm trương.

Huyết áp bình thường

Mặc dù các công ty bảo hiểm, hoàn toàn có lý khi xem huyết áp cao >= 140/90mmHg nhưng mức độ này không thích hợp với tất cả cá nhân. Thực ra, nhiều chuyên gia về cao huyết áp thấy rằng áp lực máu là 1 con số thay đổi, từ ngưỡng thấp đến cao. Là biến số hàm ý không có 1 giới hạn chính xác, rõ ràng để phân chia huyết áp bình thường và huyết áp cao.

Ở vài người, trị số huyết áp thấp hơn 140/90 có thể vẫn phù hợp với ngưỡng bình thường. Ví dụ, trong vài trường hợp như bệnh nhân bệnh thận mãn tính bị mất protein qua nước tiểu (tiểu đạm ), huyết áp lý tưởng giữ ở trị số 125/75 hay thấp hơn. Mục đích của việc hạ huyết áp ở những bệnh nhân này là làm chậm tiến triển suy thận. Bệnh nhân tiểu đường cũng vậy, huyết áp nên giữ ở mức <=140/90.

Ngoài ra, người da đen là những người có nguy cơ biến chứng cao huyết áp, có thể giảm nguy cơ này bằng cách hạ huyết áp tâm trương <=80mmHg.

Cao huyết áp tâm thu là gì?

Nên nhớ là huyết áp tâm thu là trị số áp huyết cao nhất và đại diện cho áp lực tại động mạch khi tim co bóp và bơm máu vào tuần hoàn. Huyết áp tâm thu thường >140mmHg xem như cao, đặc biệt kết hợp huyết áp tâm trương cao (> 90mmHg).

Tuy nhiên, cao huyết áp tâm thu đơn thuần được định nghĩa khi áp lực tâm thu >160mmHg với áp lực tâm trương vẫn < 90mmHg. Rối loạn này trước hết tác động ở những người già, và đặc trưng bởi áp lực mạch tăng. Áp lực mạch được định nghĩa là độ chênh lệch giữa huyết áp tâm thu và tâm trương. Sự tăng áp suất tâm thu mà không tăng áp suất tâm trương, như trong cao huyết áp tâm thu đơn thuần thì sẽ làm tăng áp lực mạch.

Ngày xưa xem như vô hại nhưng bây giờ tăng áp lực mạch là một vấn đề sức khoẻ tương lai. Nói cách khác, áp lực mạch cao xem như dấu hiệu báo trước quan trọng chỉ ra tổn thương ở cơ quan đích một cách tiềm ẩn. Vì vậy, cao huyết áp tâm thu đơn thuần làm tăng nguy cơ 2-4 lần lớn tim, nhồi máu cơ tim, đột quị (tổn thương não) và chết vì bệnh tim hay đột quị. Những nghiên cứu lâm sàng ở bệnh nhân bị cao huyết áp tâm thu đơn thuần cho thấy giảm huyết áp tâm thu ít nhất 20mmHg xuống <160mmHg sẽ giảm được những nguy cơ trên.

Cao huyết áp áo choàng trắng là gì?

Trị số áp huyết cao đơn độc ở phòng khám có thể là giả vì sự tăng này chỉ mang tính tạm thời. Có lẽ, hiện tượng này do sự lo lắng của bệnh nhân có liên quan đến stress khi thăm khám. Thật vậy, đề nghị được thực hiện thấy 1 trong 4 người có huyết áp cao nhẹ có thể có huyết áp bình thường ngoài phòng khám.

Loại cao huyết áp chỉ được ghi nhận tăng tại phòng khám được gọi là cao huyết áp áo choàng trắng. Dĩ nhiên, tên gọi áo choàng trắng tượng trưng cho thầy thuốc, gây lo lắng cho người bệnh, và ngẫu nhiên tăng áp huyết. Một chẩn đoán cao huyết áp áo choàng trắng có thể ngầm hiểu là không quan trọng và nguy hiểm.

Tuy nhiên, cần thận trọng trong lời giải thích ngây ngô của cao huyết áp áo choàng trắng. Huyết áp tăng do stress hay lo lắng do khám BS không phải luôn luôn là vô hại. Những stress khác trong cuộc sống người bệnh cũng có thể gây tăng huyết áp mà không được ghi đo.

Vì vậy, monitor đo áp huyết tại nhà hay ở nhà thuốc có thể giúp đánh giá tần suất và độ ổn định của trị số huyết áp cao. Ngoài ra, những test thích hợp để tìm biến chứng của cao huyết áp có thể giúp đánh giá ý nghĩa của những trị số huyết áp khác nhau.

Cao huyết áp giới hạn là gì?

C.H.A giới hạn được định nghĩa là tình trạng đôi khi cao huyết áp nhẹ >140/90mmHg, đôi lúc lại thấp hơn. Ở người lớn tuổi, huyết áp tâm thu cao hơn một chút, khoảng 140 đến 160mmHg, xem như là huyết áp giới hạn, miễn là huyết áp tâm trương < 90mmHg. Như trong trường hợp cao huyết áp áo choàng trắng, bệnh nhân với huyết áp giới hạn cần lấy huyết áp trong nhiều điều kiện khác nhau và tổn thương cơ quan đích của họ được đánh giá để biết khi nào tình trạng cao huyết áp của họ có ý nghĩa.

Hãy nhớ là những người cao huyết áp giới hạn có xu hướng, khi họ già thì huyết áp họ ngày càng cao và duy trì liên tục. Do đó họ thật sự có nguy cơ cao bệnh tim mạch. Bởi vậy ngay lúc ban đầu khi cao huyết áp chưa có ý nghĩa thì ở những người cao huyết áp giới hạn can được tiếp tục theo dõi và tầm soát những biến chứng của cao huyết áp.

Nếu suốt thời gian theo dõi bệnh nhân cao huyết áp giới hạn, huyết áp của họ ở mức ổn định cao >140/90mmHg, thì chỉ định thuốc hạ áp thường bắt đầu. Tuy nhiên, nếu huyết áp tâm trương còn ở giới hạn (thường < 90mmHg và ổn định >85) thì điều trị có thể thực hiện ở vài tình huống (Xem điều trị cao huyết áp).

Nguyên nhân cao huyết áp ?

Hai dạng áp lực máu cao được mô tả: cao huyết áp nguyên phát và thứ phát. Cao huyết áp nguyên phát phổ biến hơn chiếm 95% dân số bị huyết áp cao. Nguyên nhân cao huyết áp nguyên phát chưa rõ. Trong cao huyết áp thứ phát, chiếm 5% trường hợp, huyết áp cao do bất thường đặc hiệu ở một trong những cơ quan, hệ thống cơ thể (Cao huyết áp thứ phát được bàn luận rõ hơn trong những phần dưới đây).

Cao huyết áp nguyên phát xuất hiện ở khoảng 75 triệu người Mỹ, xin lưu ý nguyên nhân cơ bản vẫn chưa biết. Tuy nhiên nhiều hiệp hội vẫn chấp nhận người cao huyết áp nguyên phát. Ví dụ như trong nhóm hay tập hợp những người có mức tiêu thụ muối cao, vượt quá 5.8 gram/ngày.

Thật ra, việc dùng muối có thể là một yếu tố quan trọng liên quan đến cao huyết áp nguyên phát trong một số tình huống khác nhau. Vì vậy, dùng muối quá mức có lẽ liên quan đến cao huyết áp, kết hợp với tuổi cao, da màu, béo phì, di truyền và suy thận.

Yếu tố di truyền được cho là đóng vai trò nổi bật trong sự tiến triển cao huyết áp vô căn. Tuy nhiên, gen qui định cao huyết áp vẫn chưa được nhận dạng (Gen là phần nhỏ của nhiễm sắc thể sản xuất ra protein qui định đặc điểm cá thể). Những nghiên cứu gần đây về gen tập trung vào yếu tố di truyền ảnh hưởng đến hệ Renin-Angiotensin-Aldosterone. Hệ này giúp điều hòa áp lực máu bằng cách điều chỉnh cân bằng muối và độ co giãn mạch máu.

Khoảng 30% trường hợp cao huyết áp nguyên phát được quy cho yếu tố di truyền. Ví dụ, ở Mỹ, tỉ lệ mới mắc bệnh cao hơn ở người da đen so với người da trắng và Châu Á. Ở những người có ba hoặc mẹ bi cao huyết áp, nguy cơ cao huyết áp gấp 2 lần so với người bình thường. Hiếm hơn, vài rối loạn gen bất thường tác động đến hormone của tuyến thượng thân gây ra cao huyết áp. Cao huyết áp do rối loạn di truyền này, ngày nay xem như cao huyết áp thứ phát.

Như đã lưu ý ở trên, nguyên nhân cơ bản của cao huyết áp nguyên phát chưa rõ. Tuy nhiên, người ta tìm thấy đa số người cao huyết áp nguyên phát thường có bất thường đặc hiệu tại động mạch. Nghĩa là họ có kháng lực mạch tăng (độ cứng hay độ đàn hồi kém) ở mạch máu nhỏ xa tim (động mạch ngoại biên). Những mạch máu ngoại biên này chưa Oxy và chất dinh dưỡng cung cấp cho tất cả các mô cơ thể. Các tiểu động mạch nối với hệ thống tĩnh mạch, mang máu trở về tim và phổi, bởi mao mạch ở mô.

Nguyên nhân làm cho mạch máu ngoại biên cứng lên chưa rõ. Nhưng, kháng lực ngoại biên tăng cao cũng được nhận thấy ở những người cao huyết áp nguyên phát liên quan đến yếu tố di truyền, béo phì, ít tập thể dục, dùng nhiều muối và người già.

Làm thế nào mà rượu, thuốc lá và café có thể ảnh hưởng đến huyết áp?

Những người uống rượu quá nhiều (trên 2 lần /ngày ) có tần suất cao huyết áp tăng 1.5-2 lần. Mối liên quan giữa rượu và huyết áp cao đặc biệt chú ý khi dùng rượu >5lần/ngày. Ngoài ra, còn kết hợp hiện tượng tăng liều. Nói cách khác, càng tiêu thụ nhiều rượu, càng liên quan chặt chẽ với cao huyết áp hơn.

Mặc dù hút thuốc làm tăng nguy cơ biến chứng mạch máu (ví dụ bệnh timđột quị) ở người đã bị huyết áp cao, mà nó còn làm huyết áp cao hơn nữa. Do đó, hút thuốc nhiều lần có thể tăng huyết áp tạm thời ngay lập tức 5-10mmHg. Tuy nhiên, những người hút thuốc đều đặn lại có huyết áp thấp hơn người không hút thuốc. Nguyên nhân là do nicotine trong thuốc lá làm giảm ngon miệng dẫn đến giảm cân và làm huyết áp thấp hơn.

Trong 1 nghiên cứu, dùng chất caffeine 5 cốc/ngày có thể làm tăng nhẹ huyết áp ở người lớn tuổi đã bị huyết áp cao nhưng lại không tăng ở người có huyết áp bình thường. Hơn nữa, kết hợp giữa hút thuốc và uống cafe ở người có huyết áp cao có thể làm tăng huyết áp hơn là chỉ uống café đơn thuần. Vì vậy, hạn chế dùng café và thuốc lá ở người bị cao huyết áp sẽ có lợi trong việc điều chỉnh huyết áp cao của họ.

Nguyên nhân của cao huyết áp thứ phát?

Như đã lưu ý trước, 5% người huyết áp cao được cho là thứ phát. Nghĩa là huyết áp của những người này cao thứ phát sau một rối loạn cụ thể tại một cơ quan hay mạch máu, ví dụ thận, tuyến thượng thận, hay động mạch chủ.

Cao huyết áp do thận

Bệnh lý tại thận có thể gây cao huyết áp thứ phát. Loại cao huyết áp thứ phát này được gọi là cao huyết áp thận vì nó do tổn thương tại thận gây ra. Một nguyên nhân quan trọng của cao huyết áp thận là hẹp động mạch thận. Ở người trẻ, thường là phụ nữ, hẹp thường dày mạch máu nuôi thận (tăng sản sợi). Ở người già, hẹp thường do xơ vữa mạch máu làm tiểu cầu tụ lại gây tắc mạch.

Làm thế nào mà hẹp động mạch thận gây cao huyết áp ? Ðầu tiên, động mạch thận bị hẹp làm giảm tuần hoàn máu đến thận. Hiện tượng thiếu máu này kích thích thận sản xuất hormone, renin và angiotensin. Những hormone này cùng với aldosterone từ tuyến thượng thận gây co thắt và tăng kháng lực mạch ngoại biên khắp cơ thể, và như đã nói, làm tăng huyết áp.

Cao huyết áp thận thường được nghi ngờ đầu tiên khi huyết áp cao xuât hiện ở người trẻ hay huyết áp cao mới xuất hiện ở người lớn tuổi hơn. Tầm soát hẹp động mạch thận bao gồm chụp cản quang, siêu âmMRI (chụp cộng hưởng từ) động mạch thận. Mục đích của những test này là xem có giảm lưu lượng máu đến thận không. Nếu test này bất thường hay bác sĩ nghĩ nhiều đến hẹp động mạch thận thì chụp động mạch thận can thực hiện. Chụp động mạch thận là xét nghiệm cuối cùng thật sự quan sát được động mạch thận hẹp.

Hẹp động mạch thận có thể điều trị bằng cách tái tạo mạch bằng bóng. Trong thủ thuật này, người thực hiện, nhờ siêu âm, luồng 1 ống (catheter) nhỏ dài vào động mạch thận. Tại đó, động mạch thận sẽ được nong rộng ra bằng cách bơm phồng bong bóng ngay chỗ hẹp.Thủ thuật này cải thiện được lưu lượng máu và hạ huyết áp.Ngoài ra nó còn bảo tồn chức năng thận bị suy yếu do thiếu máu. Hiếm khi phẫu thuật can thiết để mở rộng chỗ hẹp động mạch thận.

Bất cứ loại suy thận mãn nào cũng có thể gây cao huyết áp với cách tương tự trong hẹp động mạch thận. Ðiều quan trọng cần nhớ là không phải chỉ bệnh thận gây cao huyết áp mà cao huyết áp cũng có thể gây bệnh thận. Vì vậy, tất cả bệnh nhân huyết áp cao can được đánh giá bệnh thận để có thể điều trị đúng đắn.

U tuyến thượng thận

Hai loại u tuyến thượng thận hiếm gặp thường ít gây cao huyết áp (Tuyến thượng thận nằm ngay trên quả thận). Cả 2 dạng u trên đều sản xuất ra quá nhiều hormone gây huyết áp cao. Các u này có thể được chẩn đoán bằng xét nghiệm máu, nước tiểu và chẩn đoán hình ảnh tuyến thượng thận. Ngoài ra, phẫu thuật thường đòi hỏi để cắt bỏ khối u hay tuyến thượng thận, và thường làm giảm được huyết áp.

Một trong những loại u thượng thận trên được gọi là cường Aldosterone nguyên phát vì khối u sản xuất ra lượng lớn hormone aldosterone. Ngoài cao huyết áp, bệnh này bị mất Kali qua nước tiểu, hậu quả là giảm Kali máu. Vì vậy, cường Aldosterone được nghĩ đến đầu tiên ở người có cao huyết áp kèm Kali máu thấp (Cũng vậy, như đã lưu ý ở trên, vài trường hiếm rối loạn di truyền ảnh hưởng hormone của thận gây cao huyết áp thứ phát).

Một type khác của u thượng thận gây cao huyết áp thứ phát là pheochromocytoma. Khối u này sản xuất quá mức Catecholamines. Chẩn đoán pheochromocytoma được nghĩ đến ở những người có những lúc cao huyết áp đột ngột và hồi quy, tình trạng này liên quan da đỏ ửng, nhịp tim nhanh, và nhiều mồ hôi cộng với triệu chứng của huyết áp cao.

Hẹp động mạch chủ

Hẹp động mạch chủ là một rối loạn di truyền hiếm gặp và là một trong những nguyên nhân thường gặp của cao huyết áp trẻ em. Bệnh này có đặc điểm là hẹp 1 đoạn động mạch chủ, động mạch chính lớn xuất phát từ tim. Ðộng mạch chủ mang máu đến các động mạch nhỏ hơn nuôi dưỡng các cơ quan bao gồm cả thận.

Ðoạn động mạch chủ hẹp thường bị ở chỗ trên động mạch thận, và làm giảm lượng máu nuôi đến thận. Tình trạng thiếu máu này sẽ kích hoạt hệ Renin -Angiotensin-Aldosterone làm tăng huyết áp. Ðiều trị thường là phẫu thuật sửa chữa đoạn hẹp. Ðôi khi thủ thuật tái tạo bằng bóng (như đã mô tả trong phần hẹp động mạch thận) cũng được dùng để mở rộng chỗ hẹp.

(Theo BSGĐ)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Ý nghĩa của sự khác biệt nhiều giữa trị số huyết áp tối đa (huyết áp tâm thu) và tối thiểu (huyết áp tâm trương) là gì? Sự khác biệt về trị số giữa huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương gọi là áp lực mạch.

Ví dụ nếu huyết áp khi đang nghỉ ngơi có trị số là 120/80 milimét thủy ngân (mm Hg) thì áp lực mạch là 40 tức sự chênh lệch giữa 120 và 80. Một số bệnh có thể làm tăng áp lực mạch, ví dụ như bệnh ở van động mạch chủ, thiếu máu nặng và cường tuyến giáp.

Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất gây tăng áp lực mạch là tình trạng xơ cứng và viêm động mạch chủ, động mạch lớn nhất của cơ thể. Bệnh có thể do cao huyết áp hay có mảng bám mỡ trên thành các động mạch (gây xơ vữa mạc máu). Sự chênh lệch giữa trị số huyết áp tâm thu và trị số huyết áp tâm trương càng lớn thì thành mạch có thể đã xơ cứng và tổn thương càng nhiều. Có bằng chứng cho thấy rằng áp lực mạch có thể là một chỉ số báo hiệu tốt về tình trạng tim, nhất là ở người cao tuổi.

Nhưng huyết áp tâm thu là chỉ số báo hiệu tốt nhất đối với những người trên 50. Với những người trên 60, áp lực mạch trên 60 mm Hg là bất thường. Điều trị cao huyết áp thường có thể làm giảm được áp lực mạch.

Đang khoẻ mạnh thì không cần quan tâm đến huyết áp?

Cao huyết áp có đặc tính là không gây ra dấu hiệu hay triệu chứng gì, vì vậy người ta mới gọi đó là kẻ giết người thầm lặng. Nếu chỉ căn cứ vào cảm giác khoẻ mạnh để coi là mình có huyết áp bình thường là không đủ. Cách duy nhất để biết có cao huyết áp không là kiểm tra huyết áp. Nhiều nước công nghiệp tỷ lệ cao huyết áp chiếm đến gần một phần ba dân số, ở Mỹ ít nhất có 65 triệu người bị cao huyết áp.

Có phải chỉ những người cao tuổi mới lo bị cao huyết áp?

Mặc dầu người có tuổi có nguy cơ bị cao huyết áp lớn hơn nhưng họ không phải là đối tượng duy nhất; cả trẻ em cũng có thể bị cao huyết áp. Đừng cho rằng còn trẻ thì không cần quan tâm kiểm tra định kỳ huyết áp hay cần phải thay đổi lối sống như bỏ hút thuốc lá hay duy trì cân nặng lành mạnh. Bất cứ ai cũng có thể bị cao huyết áp.

Nếu không ăn mặn thì không lo bị cao huyết áp?

Ăn ít muối là một phần quan trọng để kiểm soát huyết áp. Mối người cần ăn dưới 2.4 g muối mỗi ngày, tương đương với một thìa cà phê. Lượng muối như vậy là cho cả ngày, không phải là lượng ăn thêm trong bữa ăn. Đồ hộp dùng cho bữa ăn và các thực phẩm chế biến khác thường có nhiều muối. Cho nên nếu đọc nhãn thực phẩm để biết lượng muối, bạn sẽ ngạc nhiên là mình đã ăn quá quy định.

Cao huyết áp chỉ xảy ra ở những luôn phải sống căng thẳng và có nhiều stress?

Ai cũng có thể bị cao huyết áp dù tính cách như thế nào. Nếu bạn có cuộc sống luôn phải tranh chấp, căng thẳng và lo lắng thì không nhất thiết là bạn sẽ bị cao huyết áp. Ngược lại, dù bạn luôn sống vô tư trầm tĩnh, ung dung tự tại thì cũng không phải sẽ đưọc miễn dịch với bệnh.

Kiểm soát stress vẫn là một yếu tố quan trọng vì những hoàn cảnh có nhiều stress có thể làm tăng huyết áp tạm thời; theo thời gian những stress liên tục xảy ra hay đi kèm với tăng huyết áp sẽ gây tổn thương các động mạch, cho tim, não, thận và mắt.

Cao huyết áp không được điều trị sẽ gây ra những hậu quả gì?

Thành động mạch chịu áp lực quá tải do cao huyết áp gây ra có thể làm tổn thương nghiêm trọng nhiều cơ quan quan trọng của cơ thể.

Nói chung, huyết áp càng cao hay càng để lâu không kiểm soát thì tổn thương càng lớn. Nếu không biết huyết áp của mình thì cần được thầy thuốc kiểm tra. Có ý thức về huyết áp và biết cần phải làm gì nếu có huyết áp cao sẽ giúp phòng ngừa được các biến chứng nghiêm trọng do huyết áp cao có thể gây ra như đột quỵ, suy tim, nhồi máu cơ tim, suy thận, mù loà.

Nguyên nhân chính gây cao huyết áp?

Những yếu tố của lối sống như hút thuốc lá, stress… có thể góp phần gây ra cao huyết áp nhưng với hầu hết mọi người thì cao huyết áp không rõ nguyên nhân. Một số yếu tố góp phần gây tăng huyết áp lại không thể kiểm soát được như tuổi tác, chủng tộc, tiền sử gia đình nhưng có thể kiểm soát được nhiều yếu tố nguy cơ khác như béo phì, sử dụng thuốc lá và rượu, ăn mặn hay ít vận động.

Nếu là người trưởng thành và không có lịch sử cao huyết áp, định kỳ bao lâu cần được kiểm tra huyết áp?

Nếu huyết áp bình thường, dưới 120/80 mmHg thì cần được kiểm tra huyết áp ít nhất 2 năm 1 lần hoặc mỗi lần gập thầy thuốc theo hẹn. Nếu có tiền sử cao huyết áp hay nếu có bệnh nào đó như tiểu đường, bệnh tim, bệnh thận thì cần được kiểm tra thường xuyên hơn.

Nếu huyết áp luôn tốt khi đo ở nhà nhưng lại luôn cao khi đo tại phòng mạch hay bệnh viện thì có đáng lo không?

Có thể do hội chứng áo choàng trắng tức tăng huyết áp tạm thời mỗi khi gặp thầy thuốc với tâm trạng lo lắng. Thầy thuốc sẽ giúp xác định đó là cao huyết áp chỉ xảy ra khi đi khám bệnh hay có bệnh cao huyết áp thực sự. Tuy huyết áp vẫn bình thường khi đo ở nhà nhưng vẫn nên kiểm tra thường xuyên hơn và vẫn nên theo chế độ kiểm soát huyết áp như thay đổi chế độ ăn, bỏ thuốc lá, hạn chế rượu, thực hành vận động và giảm stress.

Nhóm dân số nào có nguy cơ cao nhất bị cao huyết áp?

Người da đen hay những người Mỹ gốc Phi là nhóm dân số có nguy cơ cao nhất bị cao huyết áp; dễ bị từ khi còn trẻ và huyết áp trung bình của họ cũng cao hơn các nhóm chủng tộc khác. Cao huyết áp cũng thường nghiêm trọng và tiến triển nhanh hơn ở người da đen.

Nếu cao huyết áp thường gập trong các thành viên gia đình thì bạn cũng sẽ bị cao huyết áp?

Cao huyết áp là bệnh có thể tránh ngay dù có lưu hành trong gia đình. Thường có thể phòng ngừa cao huyết áp bằng những biện pháp sau: duy trì cân nặng hợp lý; luôn có lối sống năng động; ăn nhiều hoa quả và rau; giảm ăn mặn; hạn chế rượu hay bỏ hoàn toàn. Nếu trong gia đình lưu hành bệnh cao huyết áp thì ngay từ bây giờ cần có những bước phòng ngừa để không bị cao huyết áp sau này; hỏi ý kiến thầy thuốc về những việc cần làm để giảm nguy cơ.

Nếu huyết áp dưới 149/90 mmHg thì không lo cao huyết áp?

Hướng dẫn xử trí cao huyết áp đã thay đổi từ mùa xuân 2003 và đã đề ra trị số mới về huyết áp bình thường. Huyết áp dưới 140/90 đã có thời gian được chấp nhận nhưng ngày nay nếu huyết áp trên 120/80 nhưng dưới 140/90 thì vẫn coi là tiền cao huyết áp (prehypertension) nghĩa là cao huyết áp vẫn có thể trở thành một vấn đề nếu không điều trị để giảm. Cần có huyết áp bình thường với trị số dưới 120/80.

Thuốc là tất cả những gì cần thiết để chữa cao huyết áp?

Không nên cho rằng chỉ có thuốc mới giảm được cao huyết áp. Thay đổi lối sống cũng rất quan trọng, ví dụ như chế độ ăn nhiều rau quả, đi bộ hàng ngày và không hút thuốc lá. Thay đổi lối sống còn có thể làm cho thuốc hiệu quả hơn và đôi khi có thể làm giảm huyết áp đủ để giảm liều lượng thuốc hàng ngày.

Dùng thuốc thay thế muối có phải là cách an toàn để giảm ăn mặn?

Có nhiều sản phẩm thay thế muối nhưng vẫn có sodium chloride. Nếu dùng nhiều sản phẩm thay thế muối cho dễ ăn thì rút cục lại ăn nhiều muối hơn cần thiết. Ngoài ra còn vấn đề tiềm ẩn nữa: potassium chloride là chất phụ gia thường dùng trong muối ăn; nếu quá nhiều potassium có thể gây tổn thương nếu có vấn đề về thận.

Cho nên cần có ý kiến của thầy thuốc trước khi dùng sản phẩm thay thế muối. Thay vì dùng sản phẩm thay thế muối, thử dùng các loại gia vị cây cỏ như rau húng, rau thơm, ớt khô…để ăn ngon miệng mà không làm tăng huyết áp.

Loại thức ăn nào chứa ít muối nhất?

Bạn sẽ ngạc nhiên về lượng muối ẩn chứa trong một số thực phẩm thường dùng. Vì vậy cần đọc nhãn dán trên một số thực phẩm. Không dùng hơn 2300mg muối mỗi ngày, tương đương một thìa cà phê. Nếu bị cao huyết áp thì còn cần giảm nữa lượng muối hàng ngày. Khi nhãn ghi salt-free hay sodium-free có nghĩa là vẫn có một lượng dưới 5mg sodium trong một suất ăn.

Nếu muốn thử giảm huyết áp, loại chế độ ăn nào tốt nhất?

Loại chế độ ăn có nhiều rau quả cũng như những sản phẩm sữa ít mỡ có thể giúp giảm huyết áp nhưng phải thực hành chế độ ăn này trong 2 tuần mới có tác dụng. Người ta nghiên cứu một chế độ ăn gọi là DASH gồm thức ăn ít mỡ và cholesterol; sản phẩm làm từ hạt toàn phần, cá, gia cầm và giảm thịt có màu đỏ, kẹo và đồ uống ngọt.

Để giảm huyết áp, cần vận động thân thể ít nhất một giờ mỗi ngày?

Ít nhất 30 phút tập thể dục vừa phải hàng ngày hay 5 ngày mỗi tuần có thể giúp phòng hoặc kiểm soát cao huyết áp. Nếu quá bận thì chia làm nhiều lần mỗi lần 10 phút. Hoặc để ôtô xa cơ quan; xuống xe buýt trước vài bến đỗ để đi bộ; nửa giờ lau rửa xe, lao động ở vườn nhà…cũng có ích.

Nếu bị quá cân thì cần giảm mấy kí nữa để giảm được huyết áp? Khoảng 4,5kg thường là đủ để tạo ra sự thay đổi về huyết áp. Cần phải đạt được chỉ số khối lượng cơ thể lành mạnh. Cho nên thầy thuốc sẽ cho biết nên giảm mấy kí và làm cách nào tốt nhất để đạt được sự giảm cân.

Thuốc uống tránh thai có làm tăng huyết áp không?

Thuốc uống tránh thai thường gây tăng huyết áp một chút nhưng không đủ để làm tăng huyết áp trên mức bình thường. Nguy cơ phát triển huyết áp cao sẽ cao hơn nếu phụ nữ dùng thuốc tránh thai uống do đó thầy thuốc thường yêu cầu phụ nữ kiểm tra huyết áp 6 tháng một lần. Phụ nữ cũng sẽ có nguy cơ cơ lớn hơn bị cao huyết áp nếu 35 tuổi trở lên và hút thuốc lá khi dùng viên thuốc tránh thai.

Làm thế nào để bảo đảm có có trị số đúng khi đo huyết áp?

Vì huyết áp chịu ảnh hưởng của thói quen sống và các hoạt động cho nên cần có những điều kiện sau đây để bảo đảm huyết áp có trị số đúng. Ăn, uống, đồ uống có chất caffein, hút thuốc lá và bàng quang đang căng đều có thể làm thay đổi trị số huyết áp. Báo cho thầy thuốc biết những hoạt động khác có thể ảnh hưởng đến huyết áp của bạn.

(Theo Tuổi Trẻ)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Tăng huyết áp là bệnh lý thường gặp nhất ở phụ nữ mang thai và cũng là nguyên nhân chính gây ra các biến chứng thậm chí cả tử vong cho mẹ và thai nhi. Có tới 15% phụ nữ mang thai bị tăng huyết áp và 25% trường hợp sinh non do tăng huyết áp. Tăng huyết áp gặp trong rất nhiều tình huống khác nhau, trong đó tiền sản giật là một biến chứng nguy hiểm nhất.

Các loại tăng huyết áp và hậu quả tim mạch

Tăng huyết áp thai nghén có thể được chẩn đoán dựa vào trị số huyết áp đo được hoặc dựa vào sự tăng huyết áp tương đối so với trước khi mang thai. Khi huyết áp tâm thu trên 140mmHg hoặc huyết áp tâm trương trên 90mmHg thì được gọi là tăng huyết áp. Nếu huyết áp tâm thu tăng trên 30mmHg hoặc huyết áp tâm trương tăng trên 15mmHg so với mức huyết áp đo được ở thời điểm trước khi mang thai thì cũng được gọi là tăng huyết áp thai nghén.

Tăng huyết áp vô căn: Tăng huyết áp vô căn chiếm 3-5% số lần mang thai của phụ nữ và có xu hướng ngày càng tăng do phụ nữ ngày nay thường sinh con muộn hơn (từ 30 - 40 tuổi). Nếu những phụ nữ này được kiểm soát huyết áp tốt thì quá trình mang thai vẫn có thể diễn ra bình thường. Tuy nhiên nếu tăng huyết áp vô căn nặng (huyết áp tâm trương trên 110mmHg) trước tuần thứ 20 của thai kỳ thì nguy cơ tiền sản giật tăng lên đến 46% và cũng tăng nguy cơ cho cả mẹ và thai nhi.

Có thể bạn chưa biết

Tăng huyết áp thai nghén chiếm 6-7% số lần mang thai của phụ nữ và khỏi hoàn toàn khi hết thời kỳ hậu sản. Nguy cơ tiền sản giật là 15-26%. Nếu tăng huyết áp xuất hiện vào tuần thứ 36 của thai kỳ thì nguy cơ chỉ còn 10%.

Tăng huyết áp thai nghén: Gọi là tăng huyết áp thai nghén khi tăng huyết áp xảy ra vào nửa sau của thai kỳ ở các phụ nữ có số đo huyết áp trước lúc mang thai hoàn toàn bình thường, không kèm theo protein niệu nhiều (trên 0,3g/24h) và các dấu hiệu của tiền sản giật.

Tiền sản giật và sản giật: Tiền sản giật thường xảy ra sau tuần thứ 20 của thời kỳ thai nghén và gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau. Trước đây người ta chẩn đoán tiền sản giật dựa vào ba triệu chứng: tăng huyết áp, phù và protein niệu nhưng quan niệm hiện đại thì cho rằng chỉ cần có tăng huyết áp thai nghén kèm với protein niệu nhiều là đủ để chẩn đoán tiền sản giật. Nguy cơ của thai nhi là chậm phát triển trong buồng tử cung và bị sinh non.

Hậu quả lâu dài trên hệ tim mạch: Những người bị tăng huyết áp ở lần mang thai đầu có nguy cơ cao bị tăng huyết áp ở lần mang thai sau. Họ còn có nguy cơ bị tăng huyết áp và đột quỵ cao sau này. Những người bị tiền sản giật hoặc chậm phát triển bào thai trong buồng tử cung sẽ tăng nguy cơ bị bệnh và nguy cơ tử vong do bệnh tim thiếu máu cục bộ. Một điều hết sức thú vị là với những phụ nữ đã trải qua thời kỳ sinh nở mà không bị tăng huyết áp thì sẽ ít bị nguy cơ mắc bệnh tim mạch hơn những phụ nữ không sinh đẻ. Việc sinh đẻ cũng khiến phụ nữ giảm được nguy cơ mắc bệnh tim mạch về sau này, điều mà nam giới không thể có được.

Kiểm soát tăng huyết áp như thế nào?

Tư vấn trước sinh: Những phụ nữ bị tăng huyết áp trước khi mang thai cần được đánh giá kỹ lưỡng để loại trừ những nguyên nhân gây tăng huyết áp thứ phát như bệnh lý thận, nội tiết, đánh giá hiệu quả điều trị huyết áp và chỉnh liều thuốc để đạt hiệu quả hạ áp tối ưu, tư vấn cho họ về nguy cơ xuất hiện tiền sản giật và việc phải thay đổi một số thuốc nếu họ đang muốn mang thai an toàn. Phần lớn những phụ nữ bị tăng huyết áp đều có thể mang thai và sinh nở bình thường nếu họ được kiểm soát huyết áp tốt và theo dõi chặt chẽ.

Điều trị bằng thuốc: Tăng huyết áp thực sự cần phải điều trị cho dù cơ chế sinh bệnh là gì. Việc điều trị chủ yếu để phòng tránh biến chứng chảy máu nội sọ. Tuy nhiên không nên hạ huyết áp quá tích cực sẽ làm giảm tưới máu cho nhau thai và ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi.

Đối với tăng huyết áp nhẹ đến vừa: Điều trị những trường hợp tăng huyết áp nhẹ và vừa có lợi cho mẹ hơn là cho thai nhi trong những ngày đầu của thời kỳ thai nghén. Một số phụ nữ đang được điều trị huyết áp từ trước thì đến giai đoạn này có thể giảm hoặc ngừng thuốc do trong nửa đầu của thai kỳ, huyết áp sẽ giảm một cách sinh lý. Tuy nhiên, sự giảm huyết áp này chỉ mang tính chất tạm thời, thai phụ cần được theo dõi sát và phải dùng thuốc lại khi cần thiết.

Có thể bạn chưa biết

Điều trị tăng huyết áp nặng bao gồm kiểm soát tốt huyết áp bằng các thuốc hạ áp đường tĩnh mạch và cố gắng duy trì quá trình thai nghén đến mức tối đa mà không gây ảnh hưởng gì đến mẹ và thai nhi.

Tăng huyết áp nặng: Nguy cơ bị biến chứng và tử vong cho mẹ trong những trường hợp tăng huyết áp nặng (huyết áp trên 170/110mmHg) và tiền sản giật vẫn còn cao. Điều trị hạ huyết áp không có tác dụng ngăn chặn tiền sản giật. Chỉ đình chỉ thai nghén mới có tác dụng trong trường hợp này nhưng điều trị hạ huyết áp lại có thể làm giảm biến chứng chảy máu nội sọ.

Thời kỳ hậu sản và cho con bú: Tăng huyết áp sau khi sinh cũng tương đối phổ biến. Những người bị tăng huyết áp từ trước có thể dùng lại phác đồ điều trị như trước khi mang thai. Tuy nhiên, phụ nữ cho con bú không nên dùng thuốc lợi tiểu. Hầu hết các thuốc hạ huyết áp đều an toàn với phụ nữ cho con bú, chỉ có các thuốc như doxazosin, amlodipine và nhóm ức chế men chuyển là chưa có dữ liệu về độ an toàn.

Tóm lại: Tất cả phụ nữ mang thai đều cần thiết phải được theo dõi chặt chẽ mọi biến đổi của cơ thể, trong đó có vấn đề huyết áp. Nếu có những biểu hiện tăng huyết áp cần đến các trung tâm sản khoa và tim mạch để được điều trị phù hợp.

TS. Nguyễn Quang Tuấn

-->đọc tiếp...

/
Chào các bạn, bạn đã vào trang Benhtimmach.com chưa, đây là trang tư vấn sức khoẻ miễn phí chuyên sâu về lĩnh vực tim mạch click here