Chào các bạn, mời bạn quảng cáo banner tại đây kích thước 500x70 - giá mềm 700.000/tháng. liên hệ suckhoegd@gmail.com. Mr.Cường



| 1 tin nhắn ]

Bệnh phổi kẽ là các tổn thương gây ra sẹo tiến triển ở mô phổi, gây tình trạng khó thở và thiếu ôxy cho cơ thể. Hầu hết các ca bệnh tổn thương tiến triển dần dần, nhưng cũng có một số trường hợp xuất hiện đột ngột. Khi phổi đã bị sẹo thường không thể hồi phục.

Hít khói bụi, hóa chất, nhiễm khuẩn sẽ gây bệnh phổi kẽ

Các nghiên cứu cho thấy bệnh phổi kẽ do nhiều nguyên nhân gây ra:  tiếp xúc lâu dài với một số độc tố hoặc các chất ô nhiễm; hít phải bụi silic, sợi amiăng, bụi kim loại; tiếp xúc với khói, hóa chất, xăng dầu, amoniac, khí clo... Hít phải các chất hữu cơ như: ngũ cốc, mía đường, bụi từ phân chim, động vật, nấm mốc. Nhiễm khuẩn: nhiễm virut, vi khuẩn, nấm và nhiễm ký sinh trùng. Bức xạ: bệnh nhân đã được trị liệu bức xạ thì mức độ bệnh nặng phụ thuộc liều bức xạ. Thuốc bao gồm các loại thuốc hóa trị, thuốc điều trị rối loạn nhịp tim và các bệnh tim mạch khác, thuốc tâm thần và một số thuốc kháng sinh.
Cảnh giác với bệnh phổi kẽ 1
Móng tay có đường cong trên các đỉnh (club) trong bệnh phổi kẽ.
Một số bệnh có thể là nguyên nhân dẫn đến bệnh phổi kẽ gồm: lupút, xơ cứng bì, viêm khớp dạng thấp, hội chứng Sjogren, bệnh trào ngược dạ dày thực quản gây viêm phổi mạn tính có thể dẫn đến xơ hóa phổi. Tuy nhiên, nhiều trường hợp không thể biết rõ nguyên nhân.  

Các yếu tố nguy cơ gồm: viêm phổi kẽ, viêm tiểu phế quản, người trên 50 tuổi, hút thuốc lá thuốc lào, trào ngược dạ dày thực quản do acid dạ dày hoặc muối mật vào phổi.

Biểu hiện khi bị bệnh phổi kẽ
Bệnh nhân bị bệnh phổi kẽ có thể thấy các triệu chứng như sau: cảm giác khó thở, đặc biệt là trong hoặc sau khi lao động hay hoạt động thể lực vừa và nặng; ho khan. Thở khò khè. Khó thở và ho khô thường là dấu hiệu ban đầu. Đau ngực. Móng tay có thể có đường cong trên các đỉnh (club). Các triệu chứng có xu hướng nặng dần. Thời gian lâu khó thở diễn ra thường xuyên dù chỉ làm việc nhẹ như mặc quần áo, nói chuyện trên điện thoại, ăn uống.
Cảnh giác với bệnh phổi kẽ 2
Tổn thương phổi trong bệnh phổi kẽ.
Sở dĩ bệnh nhân bị khó thở là do: bệnh phổi kẽ gây viêm thành của các túi khí và các mô làm cho các túi khí bị dày lên và thành sẹo. Bình thường các túi khí đàn hồi cao, mở rộng và giãn nở nhịp nhàng theo từng hơi thở. Nhưng khi đã bị sẹo (xơ hóa) thành túi khí vừa cứng vừa dày làm cho khả năng đàn hồi co giãn của nó bị hạn chế, khí ôxy cũng khó vào máu qua những bức thành dày của túi khí làm cho cơ thể bị  thiếu ôxy.
Chụp Xquang, chụp cắt lớp vi tính (CT), có thể thấy hình ảnh tổn thương của phổi. Xét nghiệm chức năng phổi (PFTs); tập thể dục thử nghiệm: vì các triệu chứng của bệnh phổi kẽ sẽ nặng lên khi hoạt động, bác sĩ có thể đánh giá chức năng phổi; nội soi phế quản... có thể giúp ích cho chẩn đoán bệnh. 

 Biến chứng thường gặp
Tổn thương trong bệnh phổi kẽ có thể dẫn đến một loạt các biến chứng đe dọa tính mạng người bệnh: Thiếu ôxy trong máu; tăng huyết áp ở mạch máu phổi là tình trạng chỉ gây tăng huyết áp ở mạch máu trong phổi mà không gây tăng huyết áp toàn thân. Do mô sẹo cản trở lưu thông của các mao mạch trong phổi, hạn chế lưu lượng máu trong phổi dẫn đến tăng áp suất trong động mạch phổi, gây nguy hiểm cho tính mạng bệnh nhân; suy tim phải, suy hô hấp.

Lưu ý trong điều trị
Điều trị bệnh phổi kẽ cần kết hợp các loại thuốc sau đây: corticosteroid để chống viêm giúp giảm các triệu chứng bệnh. Thuốc này hiếm khi cải thiện chức năng phổi ở những người bị xơ hóa phổi. Tuy nhiên, không nên dùng thời gian dài vì corticosteroid có thể gây ra một số tác dụng phụ, như bệnh tăng nhãn áp, loãng xương, tăng đường huyết dẫn đến bệnh đái tháo đường, chậm lành vết thương, tăng tính nhạy cảm với nhiễm khuẩn. Azathioprine dùng kết hợp với corticosteroid để điều trị bệnh phổi kẽ. Acetylcystein có tác dụng chống ôxy hóa làm giảm tổn thương sẹo hóa phế nang. Anti - fibrotics cũng được dùng để làm giảm sự phát triển của mô sẹo. Ôxy liệu pháp có thể cải thiện giấc ngủ, giảm huyết áp ở buồng tim phải. Phục hồi chức năng phổi chủ yếu là biện pháp tập thể dục, thầy thuốc sẽ hướng dẫn bệnh nhân cách hít thở hiệu quả hơn; phối hợp với việc ăn uống đủ chất, tạo tâm lý thoải mái để bệnh mau hồi phục.
Cấy ghép phổi trong các trường hợp: bị bệnh phổi kẽ trầm trọng mà các biện pháp điều trị khác không có kết quả.
 ThS. Nguyễn Xuân Lục - Suckhoedoisong

Biện pháp phòng bệnh phổi kẽ
Bỏ hẳn thuốc lá thuốc lào; sử dụng quần áo bảo hộ lao động trong các nghề nghiệp phải tiếp xúc với các chất ô nhiễm, bụi silic, sợi amiăng, bụi kim loại, khói, hóa chất, bụi hữu cơ như ngũ cốc, mía đường, chăn nuôi chim, gà, động vật. Ðiều trị triệt để các bệnh nhiễm vi khuẩn, virut, nấm, ký sinh trùng. Toàn thân và nhất là bệnh ở phổi. Ðối với bệnh nhân đã sử dụng trị liệu bức xạ, hóa trị liệu hoặc dùng các thuốc điều trị bệnh tim mạch, thuốc tâm thần và một số thuốc kháng sinh... cần được theo dõi chặt chẽ, khám bệnh định kỳ để phát hiện sớm bệnh phổi kẽ và điều trị kịp thời, kết hợp với chế độ ăn uống đầy đủ và tập luyện  thể dục thường xuyên đều đặn. Ðiều trị tích cực các bệnh là nguyên nhân dẫn đến bệnh phổi kẽ như lupút, xơ cứng bì, viêm khớp dạng thấp…
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Giãn phế quản do hậu quả của các bệnh như viêm xoang, viêm tai, viêm mũi, viêm vùng răng miệng, nhiễm khuẩn đường hô hấp, một số bệnh nghề nghiệp...
 Giãn phế quản
Đo, kiểm tra chức năng hô hấp của phổi - Ảnh: T.Tùng
Các bệnh kể trên gây nhiễm trùng ở phế quản kéo dài và tái phát nhiều lần dẫn đến tổn thương các sợi cơ, sợi chun và sụn phế quản. Đồng thời, các chất xuất tiết ùn tắc lại trong phế quản và gây ra phản xạ ho, từ đó gây tăng áp lực trong lòng phế quản kéo dài, dẫn tới giãn phế quản. Lúc đầu, giãn phế quản chỉ là tạm thời nhưng nếu điều trị không tốt thì tổn thương sẽ trở thành không hồi phục. Các tổn thương gây hẹp phế quản như polýp phế quản, dị vật phế quản...

Giãn phế quản do hóa chất thường gặp ở những người làm việc lâu ngày với các hóa chất bay hơi. Các hóa chất này khi hít vào đường hô hấp sẽ gây kích thích, tăng tiết và tổn thương cấu trúc thành phế quản. Còn giãn phế quản bẩm sinh chỉ chiếm khoảng 10% số người mắc bệnh. Đa số đều thấy ở người trẻ và có kết hợp với bệnh phổi đa nang.

Bệnh giãn phế quản thường có các biểu hiện lâm sàng khác nhau, tùy thuộc thời gian mắc bệnh, diện rộng của tổn thương và mức độ giãn. Thường có các dấu hiệu như sốt - người bệnh chỉ sốt ở giai đoạn ứ đọng mủ và đàm trong phế quản do không khạc ra được, thông thường sốt khoảng 38 - 40 độ C, gầy yếu, mệt mỏi, nhức đầu, chán ăn, có dấu hiệu “ngón tay dùi trống” và “móng tay hình mặt kính đồng hồ” - dấu hiệu này có thể gặp ở khoảng 1/3 số người mắc bệnh giãn phế quản, và thường gặp ở những người mắc bệnh lâu ngày, có các rối loạn về chức năng hô hấp và tim mạch.

Ho khạc có đàm là triệu chứng nổi bật nhất của bệnh. Người bị giãn phế quản thường bị ho về sáng, khạc ra nhiều đàm mủ. Ho ra máu chiếm khoảng 20 - 50% người mắc bệnh. Đau tức ngực, khó thở chiếm 50 - 70% trường hợp - các dấu hiệu này thường xuất hiện trong những đợt bội nhiễm nặng.
Để chẩn đoán bệnh này, ta sẽ làm X-quang phổi, vốn có giá trị rất lớn trong chẩn đoán; soi phế quản có thể thấy được chỗ chít hẹp, tìm được nơi dịch mủ và máu từ các phế quản giãn chảy ra, từ đó có thể tiến hành sinh thiết niêm mạc phế quản và lấy dịch mủ đi cấy khuẩn đồng thời làm kháng sinh đồ để có hướng điều trị.

Bệnh thường để lại các biến chứng như viêm phổi tái diễn ở vùng phế quản giãn, áp xe phổi, mủ màng phổi, suy hô hấp mãn... Bệnh chủ yếu là điều trị nội khoa để giải quyết triệu chứng; tập thở (qua việc tập vật lý trị liệu). Có trường hợp phải điều trị ngoại khoa (mổ).

BS Hồ Văn Cưng - Thanh niên
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Cháu N.T.D, 2 tháng tuổi (ở Thái Bình), bị viêm phổi đang được cấp cứu tại BV Nhi Trung ương

Chỉ trong 2 ngày qua, Khoa Truyền nhiễm Bệnh viện (BV) Nhi Trung ương đã tiếp nhận và cấp cứu nhiều trường hợp bị viêm phổi, nhiễm trùng huyết... nặng có nguy cơ tử vong cao. Cháu N.T.D, 2 tháng tuổi, ở Thái Bình, nhập viện chiều 13-2 trong tình trạng tím tái, khó thở, bụng trướng. Theo chẩn đoán của bác sĩ, cháu bị viêm phổi và nhiễm trùng huyết lại kèm theo tình trạng thiếu ôxy nên sức khỏe khá nguy cấp.

Nhiều trường hợp viêm phổi nặng 

Do thời tiết lạnh kéo dài, sức đề kháng của trẻ nhỏ không chịu được, trong khi đó gia đình lại tự điều trị khi cháu bị sốt nên việc điều trị những ngày tiếp theo sẽ rất khó khăn. Bác sĩ Lê Thị Minh Hương, Khoa Hô hấp BV Nhi Trung ương, cho biết không chỉ thời điểm sau Tết mà ngay trong dịp Tết số bệnh nhi được điều trị tại đây cũng đã tăng bất thường. Phần lớn bệnh nhi là các cháu dưới 3 tuổi. 

Theo bác sĩ Hương, các cháu bị bệnh thường do sức đề kháng giảm, thêm vào đó là những thay đổi của thời tiết nên dễ dàng bị các virus, vi khuẩn tấn công. Nhiều cháu đã bị viêm phổi ở giai đoạn nặng. Cháu Nguyễn Thùy L., hơn 2 tuổi ở Thanh Xuân, Hà Nội, đã phải điều trị 3 ngày tại đây vì viêm phổi. Theo mẹ cháu bé, có lẽ thời tiết lạnh nhưng gia đình lại cho cháu đi chơi Tết nhiều quá nên cháu bị ốm. Bé Thu H., 4 tháng tuổi (ở Bắc Giang), đang được y tá tiêm thuốc điều trị hen qua đường ven trên đầu. Mẹ của bé cho biết, chưa đầy tháng tuổi bé thở đã thấy khó khăn, nhất là khi thời tiết bắt đầu thay đổi. Sau nhiều lần đi khám, các bác sĩ mới xác định được bé bị hen. 

Tiêu chảy, bệnh dễ lây! 

Tương tự, Khoa Tiêu hóa (BV Nhi Trung ương), Khoa Nhi (BV Bạch Mai), lượng bệnh nhân bị tiêu chảy trong và sau dịp Tết nhập viện không chỉ do rối loạn tiêu hóa vì ăn uống thoải mái trong dịp Tết mà khá nhiều bệnh nhi bị tiêu chảy do nhiễm Rotavirus. 

TS Nguyễn Tiến Dũng, Khoa Nhi (BV Bạch Mai), cho biết tiêu chảy là bệnh có nguy cơ lây chéo cao, kể cả trong môi trường BV hay gia đình. Bệnh nhi bị tiêu chảy vào mùa đông - xuân thường do Rotavirus gây ra. Bệnh rất dễ lây lan và khá nguy hiểm nếu không được chữa trị kịp thời. Tuy nhiên, đáng ngại là bệnh tiêu chảy có nguy cơ lây chéo cao nên dễ bùng phát thành dịch. Vì thế, có gia đình cả nhà đều bị tiêu chảy do khâu vệ sinh, phòng chống kém. Hiện tại khoa đã điều trị cho một gia đình ở Hà Nội có cả 2 con và mẹ đều bị tiêu chảy. 

TS Dũng cảnh báo, mặc dù là bệnh thông thường nhưng không ít cha mẹ điều trị sai, coi thường hoặc hiểu nhầm tiêu chảy là bệnh của trẻ mọc răng. Do đó, vừa qua có nhiều gia đình đưa con tới bệnh viện khi quá muộn, thậm chí có cháu bé đã bị biến chứng sang suy thận. 

Nguyên nhân do thời tiết 

Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc, Phó Giám đốc BV Nhi Trung ương, cho biết thời tiết đang ấm lại lạnh giá đột ngột khiến trẻ bị bệnh tăng vọt. Trong tổng số gần 600 bệnh nhi phải điều trị tại BV 6 ngày Tết thì có tới 80% bệnh nhân là nặng. 

Theo các bác sĩ, thời tiết giá lạnh kéo dài là tác động quan trọng khiến số bệnh nhi bị viêm phế quản, viêm phổi tăng đột biến trong suốt mấy tuần qua. Chỉ tính riêng sáng 14-2, BV đã tiếp nhận trên 500 trẻ đến khám, 50% - 60% số bệnh nhân này bị viêm phế quản – phổi, viêm phổi và tiêu chảy. Đáng kể nhất là tại khoa hô hấp, có khoảng 20% trẻ đã bị nặng trong tình trạng thở khò khè, co kéo xương ức, thậm chí có trẻ tím tái, ngừng thở.... 

Cũng theo TS Dũng, trong số bệnh nhi vào khoa điều trị đa số đã bị viêm phổi ở giai đoạn nặng, nguy hiểm đến tính mạng. Nguyên nhân do các bậc cha mẹ cho rằng, trẻ bị sốt virus thông thường rồi tự cho con uống thuốc, thấy trẻ không đỡ mới đưa tới BV nên nhiều cháu đã trong tình trạng viêm phổi nặng. 
Cách nhận biết trẻ bị viêm phổi 

Thở nhanh là dấu hiệu sớm nhất cho biết trẻ đã bị viêm phổi. Trẻ được coi là thở nhanh khi có số nhịp thở trong một phút là: Trẻ 1-5 tuổi: 40 lần trở lên. Trẻ từ 2 tháng đến 1 tuổi: 50 lần trở lên. Trẻ dưới 2 tháng tuổi: 60 lần trở lên. Cha mẹ có thể tự kiểm tra nhịp thở cho con bằng cách đặt tay vào bụng trẻ rồi đếm tần số bụng lên xuống. Nếu nhịp thở của trẻ nhanh hơn so với lứa tuổi là dấu hiệu bất thường của bệnh. 

Nếu thấy trẻ thở khác thường hoặc tiếng thở của trẻ phát ra bất thường thì có thể nghi trẻ bị viêm phổi và hãy đưa ngay trẻ đến bệnh viện. Trẻ thở co rút lồng ngực cũng là dấu hiệu quan trọng của bệnh viêm phổi.
(VNDOC 's Blog - Theo NLĐ)
My World Visitor Profile Map
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Tại lễ tổng kết chương trình chống lao quốc gia năm 2007 hôm 17-1, viện trưởng Viện Lao và bệnh phổi T.Ư Đinh Ngọc Sỹ đã cho biết điều tra tỉ lệ người bệnh lao bị kháng thuốc lần 3 vừa kết thúc, và kết quả ước tính khoảng 3% người bệnh đã bị kháng thuốc. 

Tại TP.HCM, con số này có thể lên đến 5-6%, gần gấp đôi tỉ lệ chung. Ngoài lý do đây là thành phố lớn, có mật độ dân cư rất cao, nguồn lây bệnh lớn, còn do thói quen người dân ưa chuộng hệ thống khám chữa bệnh tư nhân. Tuy nhiên hệ thống này lại chưa được chương trình phòng chống lao quản lý, nhiều bác sĩ điều trị theo kinh nghiệm và tỉ lệ người dân bỏ điều trị cao. 

Ông Sỹ cũng cho biết số người mắc lao mới ở VN hầu như không giảm: mỗi năm có 100.000 người.

(VNDOC 's Blog - Theo báo Tuổi Trẻ)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Để phòng tránh ho, sau khi đi ngoài đường gió lạnh và bụi bặm về, bạn nên nhỏ vài giọt tinh dầu quế (hay bạc hà, khuynh diệp, dầu gió) vào một bát nước sôi già, hít hơi nóng bốc lên

Thời tiết lạnh dễ gây ho, chảy mũi do viêm mũi họng, phế quản, viêm mũi dị ứng. Một số mẹo nhỏ sau sẽ có ích cho bạn: 

Xông mũi, họng 

Sau khi đi ngoài gió bụi về, hãy thong thả nhỏ vài giọt tinh giầu thảo dược vào một bát nước sôi già và hít hơi nóng bốc lên. Có thể dùng phễu hoặc trùm đầu bằng khăn lông to để sẽ có tác dụng tốt hơn. Việc xông mũi sẽ duy trì nhu động cho nhung mao niêm mạc xoang, làm thông thoáng vùng mũi, họng, xoang. 

Khi tắm, mở vòi hoa sen nước nóng (nhiệt độ làm hơi nước bốc lên mờ gương là vừa đủ), vừa tắm vừa hít hơi nóng tỏa ra, làm khoảng 10-15 phút/ngày. 

Rửa mũi bằng nước muối sinh lý 0,09% hằng ngày: Rót nước muối vào một chén miệng đủ rộng, bịt một bên lỗ mũi, hít nước muối vào mũi bên kia, nhẹ nhàng hỉ mũi ra. Đổi bên mũi và lặp lại động tác này. Có tác dụng tốt đối với những người bị xoang mãn tính. 

Không khí trong phòng khô cũng làm kích ứng, gây đau mũi, họng. Một chậu gốm rộng miệng đổ đầy nước và thả vào vài cánh hoa sẽ cung cấp hơi ẩm, làm không khí trong phòng dịu lại ngay. 

Sử dụng thức ăn đồ uống 

Uống nhiều nước: Cơ thể cần đến trên 2 lít nước mỗi ngày. Các loại trà "nóng" như trà thìa là, trà hồi, trà gừng có tác dụng rất tốt. 

Tỏi: Chứa chất allicin tự nhiên, sẽ biến đổi thành kháng sinh allicin, có tác dụng diệt khuẩn mạnh. 

Củ cải trắng tươi: Chứa hợp chất sulfur tự nhiên, có tác dụng như allicin trong tỏi. Trong y học cổ truyền, củ cải trắng tươi được gọi là lai phục tử, có tác dụng "tiêu tích hóa đờm". 

Một số bài thuốc đơn giản cho trẻ nhỏ 

Phật thủ mạch nha: Trái phật tử tươi rửa sạch, thái từng lát mỏng, cho vào bát. Cho mạch nha lên trên (tỷ lệ 1/1), đậy kín miệng bát, hấp cách thủy 45-50 phút. Để nguội, chắt lấy nước, cất vào hũ thuỷ tinh sạch, để trong ngăn mát tủ lạnh dùng dần. 

Khi bé ho ấy khoảng 5-10 ml, ngâm cho ấm, cho bé uống 4-5 lần/ngày. Thời tiết xấu có thể cho bé uống hằng ngày để phòng ho. Nên thêm chút mật ong cho bé dễ uống, lại giúp làm sạch lưỡi. 

Quất chưng: Quả quất chín, hoa hồng bạch, hạt chanh mỗi vị 10 g, cho vào bát cùng với một thìa mật ong, chưng cách thuỷ trong 15 phút. Nghiền nát, để nguội. Cho bé uống 3 lần trong ngày. 

Hạt quất chưng: Hạt quất, lá xương bồ, hạt chanh mỗi vị 10 g, mật gà đen 1 cái. Tất cả để tươi, giã nhỏ, thêm đường, chưng cách thủy. Chia làm 2-3 lần, uống trong ngày.

(Theo VNDOC's Blog sưu tầm)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Trong số các loại thuốc dùng cho bệnh vùng hầu họng (như viêm VA, viêm amidan, viêm thanh quản, phế quản), dạng thuốc xịt được coi là khá hiệu quả và an toàn.

Càng ngày, tỷ lệ nhiễm các bệnh ở đường hô hấp, đặc biệt là vùng hầu họng càng cao. Khí hậu nóng ẩm tạo điều kiện thuận lợi cho các loại vi khuẩn, ký sinh trùng gây bệnh phát triển, phần lớn là liên cầu tan huyết bêta nhóm A.

Việc lựa chọn các chế phẩm sử dụng tại chỗ sao cho an toàn và mang lại hiệu quả điều trị cao là điều rất quan trọng. Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều loại thuốc dạng bào chế dùng cho vùng hầu họng. Dựa vào kết quả chẩn đoán lâm sàng, thầy thuốc sẽ chỉ định cho người bệnh sử dụng các loại thuốc phù hợp. Các chế phẩm xịt họng được coi là khá hiệu quả và an toàn, gồm nhiều loại:

Chứa kháng sinh đa peptid: Được chỉ định trong các trường hợp bị viêm nhiễm vùng hầu họng do vi khuẩn như viêm họng, viêm amidan, viêm VA, viêm thanh quản...

Chứa corticoid: Thường được chỉ định dự phòng các cơn co thắt phế quản cho bệnh nhân bị viêm phế quản thể co thắt cấp và mạn tính. Mặc dù là corticoid nhưng các hàm lượng thuốc thấp nên có dụng lâu dài cũng không gây tác dụng toàn thân như khi sử dụng các dạng bào chế khác.

Chứa các hoạt chất giãn phế quản: Thường được chỉ định cắt cơn co thắt phế quản, giúp việc vận chuyển chất nhầy được dễ dàng, dành cho các bệnh nhân hen phế quản cấp hoặc mạn tính.

Nhưng cho dù là chế phẩm sử dụng tại chỗ, người dân cũng không nên tự ý sử dụng khi chưa có ý kiến của nhân viên y tế mà phải được thăm khám, xác định đúng bệnh, đúng thuốc để tránh các tai biến đáng tiếc.
(Theo VNDOC 's Blog Sưu Tầm)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Khó thở là cảm giác chủ quan của người bệnh khi hô hấp. Có 2 loại khó thở là : khó thở thì hít vào và khó thở thì thở ra. Khó thở này có thể người bệnh chủ quan cảm nhận hoặc người khác khách quan nhận thấy được.

Vai trò của phổi là oxi hoá máu và thải khí carbonic(CO2). Trong trường hợp suy hô hấp, lượng khí CO2 trong máu tăng lên, trong khi đó lượng oxy trong máu giảm làm cho người bệnh có triệu chứng khó thở.

Người bệnh phải gắng sức để thở, họ cảm giác khó thở, thiếu không khí để thở, cảm giác nghẹt, chẹn ở ngực. Có nhiều nguyên nhân gây ra khó thở như : gắng sức nặng, bệnh tim, bệnh phổi.

1. Dấu hiệu khách quan

2. Các loại khó thở

a. Khó thở thì thở ra.

b. Khó thở thì hít vào

3. Nguyên nhân

a. Khó thở cấp tính

b. Khó thở mãn tính

- Bệnh tim.

- Bệnh hô hấp

- Thiếu máu

- Bệnh khác

4. Các rối loạn khác về chức năng hô hấp

Những dấu hiệu lâm sàng khách quan

- Thời gian hô hấp bất thường

- Thở co kéo cơ hô hấp

- Cánh mũi phập phồng.

Các loại khó thở khác nhau

- Phân tích các loại khó thở khác nhau tuỳ thuộc vào sự kéo dài thời gian hô hấp

Khó thở thì thở ra :

- Hen là một bệnh điển hình gây khó thở thì thở ra

Khó thở thì hít vào:

Thở co kéo là dấu hiệu của khó thở thì hít vào. Biểu hiện bởi co kéo các cơ thành ngực, cơ liên sườn, co kéo hỏm ức. Khó thở thì hít vào gặp trong dị vật đường hô hấp

Nguyên nhân khó thở

Những tình huống xuất hiện khó thở cho phép định hướng chẩn đoán bệnh. Khó thở xuất hiện nhanh( khó thở cấp), hoặc khó thở xuất hiện từ lâu (khó thở mãn)

Khó thở cấp

- Thuyên tắc phổi

- Phù phổi cấp

- Tràn khí màng phổi

- Cơn hen cấp

- Viêm phổi

- Dị vật hô hấp

- Viêm thanh quản cấp

- Bạch hầu thanh quản

Khó thở mãn

Bệnh lý tim mạch

- Suy tim

- Viêm màng ngoài tim

Bệnh lý hô hấp

- Viêm phổi

- Viêm phế quản mãn

- Tăng áp động mạch phổi

- Dãn phế quản

- Suyễn

- Thiếu máu

Nguyên nhân khác

- Những bất thường của thành ngực như: gù vẹo cột sống, tổn thương xương sườn

- Những rối loạn của cơ quan bên dưới ( gây đau làm hạn chế cử động hô hấp)

- Rối loạn hệ thần kinh

- Rối loạn do thuốc hoặc do độc chất

- Rối loạn tâm lý: lo lắng

Các kiểu rối loạn hô hấp khác nhau

- Thở nhanh

- Thở chậm

- Khó thở khi nằm đầu thấp

- Khó thở kịch phát về đêm




Viêm phổi. Do vi trùng hoặc vi rus gây khó thở, ho, khạc đàm, sốt lạnh run.

Viêm phế quản mãn. Do thuốc lá, hoá chất(khí clor), người bệnh ho, khạc đàm, bệnh tiến triển nặng dần và khó thở.

Khí phế thủng phổi . Do phá huỷ dần các phế nang phổi ở người hút thuốc lá. Triệu chứng của bệnh là khó thở mãn tính, thở có tiếng rít, ho và có thể khạc đàm.

Hen. Khó thở thì thở ra, thường là đáp ứng của đường hô hấp với dị ứng, thở có tiếng rít, lồng ngực co kéo, cảm giác khó thở, ho khan hoặc có đàm (khó khạc).

Dị ứng hô hấp nặng . Dị ứng mặt, lưỡi, hầu, thanh quản, mô mềm ở họng, và dây thanh âm, gây khó thở, thở có tiếng rít. Thường là dị ứng kháng sinh penicilline, đậu phộng, côn trùng cắn. Đây là cấp cứu nội khoa.

Thuyên tắc phổi. cục huyết khối hình thành trong mạch máu ( đa số là chi dưới), tách ra, rồi lưu thông trong dòng máu gây tắc động mạch phổi. Ngồi xe hoặc đi máy bay lâu, bất động chi kéo dài, chấn thương chân (trong tai nạn) dễ tạo thành cục máu đông. Ngoài ra, nguy cơ thuyên tắc tăng cao hơn trong gia đình có người thân bị thuyên tắc. Thuyên tắc phổi biểu hiện bởi khó thở đột ngột, tuỳ theo kích thước và vị trí của cục máu đông, người bệnh đau ngực, sốt, ho đàm lẫn ít máu.

Tràn khí màng phổi. Tràn khí màng phổi xuất hiện khi những túi khí bị xâm nhiễm khí trong mô tế bào và nằm ở bề mặt phổi vỡ ra, và nằm xen vào giữa màng phổi thành và màng phổi tạng. Lý do vẫn chưa rõ tại sao những người trẻ và người ốm dễ bị tràn khí màng phổi. Và nhiều trường hợp tràn khí màng phổi xảy ra trong cùng gia đình. Khí phế thủng và chấn thương ngực nặng ( do vết thương) là nguyên nhân gây khó thở. Triệu chứng khó thở xuất hiện đột ngột, đau hạ sườn.

Viêm thanh thiệt cấp. Đó là nhiễm trùng thanh quản thanh thiệt, người bệnh khó thở, thở có tiếng rít nhất là khi hít vào, bệnh nhân đau họng và sốt. Trẻ em đặt biệt nhạy cảm với mầm bệnh. Đây là một cấp cứu y khoa vì người bệnh có nguy cơ nghẹt thở.

Hội chứng tăng thông khí . Đó là một hiện tượng lành tính, thường gặp ở những người lo âu( phụ nữ thường gặp hơn nam giới). Trong trường hợp này, thở nhanh làm giảm khí carbonic trong máu, người bệnh suy yếu, mệt mỏi, tim đập nhanh, cảm giác kiến bò ở cánh tay, bàn tay, đau ngực hay đau bụng, cảm giác nóng bừng, thậm chí làm người bệnh bất tỉnh.

Xơ phổi. Đây là bệnh lý mãn tính, và rất nặng. Bệnh đặc trưng bởi sự hình thành từ từ mô sẹo trong phổi. Nguyên nhân của bệnh thường không tìm được. Bệnh cũng có thể gặp ở những người thợ hầm mỏ, công trường bị nhiễm amiant (tiếp xúc lâu ngày với sợi amiant), bụi silic . Theo năm tháng, phổi xơ hoá và bị cứng làm mất dần khả năng hoạt động của phổi, bệnh nhân khó thở nông, thở nhanh, mệt mỏi, bệnh ngày càng nặng dần.

Xơ nang phổi. Đó là bệnh bẩm sinh và di truyền, do chức năng các tuyến của phổi và hệ tiêu hoá hoạt động kém, làm cho các chất tiết ở phổi bị cô đặc. Dịch nhày đặc, chảy trong các tiểu phế quản và làm tắc nghẽn lưu thông khí oxygen, tạo điều kiện cho đám vi trùng phát triển ở phổi bị tắc nghẽn, gây nhiễm trùng phổi tái đi tái lại góp phần làm phá huỷ nhu mô phổi. Ngoài triệu chứng ở phổi như khó thở, người bệnh còn có thể bị những vấn đề ở đường tiêu hoá (như tiêu chảy mãn) và những rối loạn về tăng trưởng.

Béo phì bệnh lý. Khi cân nặng quá mức, bụng phệ và phải cần nhiều lực mới có thể đẩy cơ hoành lên trong động tác hô hấp, làm cho người bệnh gắng sức để thở. Khó thở thường xuyên, và nặng lên khi gắng sức. Hơn nữa, vấn đề hô hấp nặng thêm do tim hoạt động kém hiệu quả do giảm khả năng hoạt động của cơ tim.

Vẹo cột sống. Dị dạng cột sống bẩm sinh ( vẹo cột sống hình chử S). Trong những trường hợp nặng, phổi bị kẹp lại do cột sống biến dạng. Điều này dẫn đến khả năng giản nở của phổi kém, gây ra khó thở mãn tính.

Loạn dưỡng cơ . Loạn dưỡng là một bệnh lý gây yếu cơ từ từ, xảy ra trong nhiều năm. Đầu tiên là giảm sức cơ ở mặt, ngực, cổ. Về sau là giảm sức cơ toàn thân. Vì vậy khó thở là do giảm khả năng hoạt động của cơ hô hấp.

Bệnh viêm màng phổi tràng dịch . Màng phổi bao gồm 2 lá : màng phổi thành và màng phổi tạng. Màng phổi tạng là lớp màng bám sát phổi, và màng phổi thành là bám vào thành ngực. Triệu chứng thường gặp nhất của viêm màng phổi là đau ngực tăng lên khi hít sâu, khi ho và khó thở tăng lên khi gắng sức khi có tràn dịch màng phổi. Thường, viêm màng phổi tràng dịch là do nhiễm trùng( virus hoặc vi trùng). Viêm đa khớp dạng thấp hoặc lupus đỏ rải rác do rối loạn miễn dịch cũng thường là nguyên nhân gây ra tràn dịch màng phổi. Ung thư phổi hoặc ung thư xâm lấn màng phổi cũng có thể gây ra tràn dịch màng phổi.

Suy hô hấp. Tất cả những vấn đề của phổi đều có thể gây ra suy hô hấp. Một cách đơn giản là phổi không còn đủ khả năng đảm bảo việc oxi hoá máu và khó thở nặng lên. Tuỳ theo bản chất của vấn đề gây ra suy hô hấp, mà nhiều triệu chứng khác nhau có thể xuất hiện.

LỜI KHUYÊN THỰC TẾ



Trong trường hợp dị ứng nặng. Nếu bạn bị dị ứng với hạt đậu phộng, côn trùng cắn, và với penicilline, bạn nên luôn thủ trong người một ống chích có adrénaline( nước ngoài có bán tự do tại các nhà thuốc với tên thương mại là Epipen). Trong trường hợp tiếp xúc với dị nguyên, bạn cần phải chích Epipen ngay lập tức. Nếu có thể, bạn nên dùng thêm thuốc viên uống kháng histamin hoặc dạng sirô như chlopheniramine hoặc Phénergan, Benadryl sirô. Tiếp theo bạn nên đến khoa cấp cứu bệnh viện. Bạn chớ quên thời điểm mà bạn đã dùng Epipen trước đây.

Nghĩ ngơi. Nếu bạn khó thở, bạn nên nghỉ ngơi vài phút trước khi bạn hoạt động nhẹ nhàng trở lại.

Phòng ngừa tạo cục máu đông. Nếu bạn di chuyển nhiều giờ trên xe hoặc máy bay, bạn nên thường xuyên dừng lại để bạn thư dãn 2 chân nhằm phòng ngừa hình thành cục máu đông. Ngoài ra, người ta khuyến cáo nên dùng thuốc kháng đông tiêm dưới da (loại héparine có trọng lượng phân tử thấp) dành cho những người có huyết khối tĩnh mạch sâu và thuyên tắc phổi. Đối với những ai ngồi lâu, trong những chuyến bay dài ( >5 giờ bay), cần phải chích thuốc nhằm phòng ngừa cục huyết khối trong mạch máu. Bạn hãy báo cho bác sĩ của bạn biết nếu bạn dự định bay. Người lớn tuổi và những người có tiền căn cá nhân, gia đình bị thuyên tắc phổi cũng phải mang vớ ép chân, đặc biệt trong trường hợp bất động lâu. Những chiếc vớ này phải đàn hồi, được bán ở các nhà thuốc mà không cần bác sĩ kê đơn, giúp cho sự lưu thông máu được dễ dàng hơn, vì vậy tránh được viêm tắc tĩnh mạch.

Giữ cho vóc dáng được mạnh khoẻ. Một vóc dáng khoẻ mạnh sẽ giúp bạn dẽo dai với gắng sức. Nếu như bạn là người ít vận động, bạn nên tập vận động từ từ bằng cách đi bộ mỗi tuần 3 lần, mỗi lần tối thiểu là 20 phút . Bạn đừng quên làm nóng trước khi vận động đấy nhé !

Được thông tin. Để thu được những thông tin quí báu, những lời khuyên và sự trợ giúp.

Không hút thuốc. thuốc lá làm tắc nghẽn đường hô hấp và giảm tuổi thọ.

Trong trường hợp tăng thông khí, thở khác đi. Nếu bạn bị cơn tăng thông khí, bạn hãy hít thở chậm lại, và không được thở sâu. Bạn hãy thở bằng mũi, không nên thở bằng miệng. Mẹo trong trường hợp này, là cho người bệnh thở trong túi khí bằng giấy nhằm chống lại hiện tượng giảm khí CO2 trong máu, nhưng cách này không giải quyết được cái gốc của vấn đề. Để có được thông tin của người tăng thông khí và chỉ cho họ cách thở bằng cơ hoành. Trong một số nơi, bệnh nhân cần cần phải đến phòng khám để tập thở.

KHI NÀO ĐI KHÁM BÁC SĨ ?
Bạn đột ngột thở nhanh và cảm thấy nghẹt thở.
Khó thở đột ngột và kéo dài trên 15 phút.
Trẻ con có triệu chứng của viêm thanh thiệt cấp( thở có tiếng rít, đau họng, sốt).
Bạn đột ngột thở nhanh và cảm thấy nghẹt thở.
Khó thở đột ngột và kéo dài trên 15 phút. Thở có tiếng rít. Thêm vào đó khó thở, khó thở kèm đau ngực.
Trẻ con có triệu chứng của viêm thanh thiệt cấp( thở có tiếng rít, đau họng, sốt).

ĐIỀU GÌ DIỄN RA KHI KHÁM ?

Khi khám, bác sĩ sẽ cho chụp X-quang phổi, xét nghiệm khí máu động mạch.Trong một số trường hợp cần phải làm xét nghiệm y học hạt nhân để giúp chẩn đoán. Nếu trong trường hợp cấp cứu, bác sĩ sẽ khám những dấu hiệu sinh tồn, đánh giá lượng khí vào phổi.
ĐIỀU TRỊ NHƯ THẾ NÀO ?

Viêm phổi

Viêm phổi do vi trùng, thường được điều trị tốt bằng thuốc kháng sinh, dùng trong 10 ngày.

Viêm phế quản mãn, khí phế thủng và hen

Các bệnh này được điều trị bằng thuốc dãn phế quản và thuốc kháng viêm. Trong những trường hợp viêm phế quản mãn tiến triển và khí phế thủng, người bệnh cần phải được cho thở oxy, do đó người bệnh cần phải dùng máy tạo oxy (tức là tạo oxy từ môi trường không khí từ 21% lên 95%). Một số bệnh nhân cần thở oxy khi gắng sức, còn một số khác thì cần oxy thường xuyên (ngày cũng như đêm).

Dị ứng hô hấp nặng

Các sĩ sẽ chích adrenaline để làm dãn phế quản. Dùng corticoid bằng đường tĩnh mạch hoặc dùng kháng histamine nhằm giảm phản ứng viêm của mặt, lưỡi, hầu, họng, thanh quản, dây thanh âm. Dùng thuốc dãn phế quản đường khí dung. Trong trường hợp suy hô hấp nặng, đôi lúc cũng phải cần đến thông khí cơ học, dùng ống nội khí quản, hoặc mở khí quản nhằm giải phóng sự tắc nghẽn đường hô hấp trên.

Thuyên tắc phổi

Cho bệnh nhân nhập viện trong vài ngày hoặc có thể điều trị tại nhà tuỳ theo trường hợp. Cho người bệnh dùng thuốc kháng đông,( heparine dùng đường tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da) nhằm ngăn chặn sự hình thành cục máu đông. Khi người bệnh ra viện, phải tiếp tục cho người bệnh dùng thuốc kháng đông như warfarine ( Coumadin, Sintron) trong nhiều tháng nhằm phòng ngừa tái phát.

Tràn khí màng phổi ( gây suy hô hấp cấp)

Thông thường, khí trong khoang màng phổi được hấp thu trong vài ngày mà không cần điều trị, nhưng người bệnh cần phải được giữ lại trong bệnh viện vài giờ để theo dõi. Nếu như triệu chứng nặng hơn, cần phải dẫn lưu khí trong khoang màng phổi nhanh chóng để phổi nở ra. Để giảm đau, thường người ta dùng thuốc giảm đau.

Viêm thanh thiệt cấp

Bệnh nhân được cho nhập viện và được dùng kháng sinh diệt khuẩn. Trước trường hợp tắc nghẽn hô hấp trên nặng, cần phải đặt nội khí quản cho người bệnh hoặc mở khí quản.

Hội chứng tăng thông khí

Bác sĩ phải trấn an người bệnh : tăng thông khí không có gì nguy hiểm đối với sức khoẻ. Cho người bệnh lời khuyên để họ an tâm và kiềm chế sự tăng thông khí, chỉ cho họ chương trình tập thở. Đôi khi cần phải dùng thuốc an thần.

Xơ phổi

Tuỳ theo nguyên nhân của xơ phổi, một số bệnh nhân có thể đáp ứng tốt với thuốc điều trị corticoide (cortisone).

Bệnh xơ nang phổi

Bệnh không tự khỏi, tuổi thọ của người bệnh không vượt quá 30 tuổi. Mục đích dùng thuốc chỉ là làm cho dịch tiết được loãng hơn đôi chút mà thôi. Người bệnh cũng cần phải được vỗ lưng thường xuyên nhằm giúp cho chất tiết bong ra dễ khạc.

Béo phì bệnh lý

Việc điều trị nhằm giảm bớt cân nặng. Có nhiều loại thuốc có thể được chỉ định để làm ốm. Cũng có thể cắt một phần dạ dày hoặc cắt bớt ruột non nhằm làm giảm thời gian hấp thu thức ăn. Để giúp người bệnh thở tốt hơn, bác sĩ có thể cho họ thở oxy.

Gù-vẹo cột sống

Trong trường hợp vẹo nặng( một góc > 45°), cần phải phẫu thuật sửa chữa, nhất là ở người trẻ. Khi vẹo cột sống gây suy hô hấp nặng, cần phải cho người bệnh thở máy hỗ trợ qua mask (áp lực dương thì hít vào và thở ra hay còn gọi là BiPAP).

Loạn dưỡng cơ

Vật lý trị liệu sẽ giúp bảo tồn lâu dài sức cơ. Khi có biểu hiện suy hô hấp, người bệnh có thể dẽ phải dùng máy tạo oxy để thở. Trong những trường hợp nặng nhất cần phải thở BiPAP. Đó là một cái máy hỗ trợ hô hấp qua mask (áp lực dương thì hít vào và thở ra).

Bệnh lý của màng phổi

Cần phải điều trị khẩn trương.

Suy hô cấp

Rối loạn hô hấp này cần phải nhập viện, đôi khi nằm ở khoa săn sóc đặc biệt, bác sĩ sẽ điều trị bệnh nguyên gây ra suy hô hấp, tuỳ theo bệnh nền là gì (như viêm phổi chẳng hạn) hay bệnh lý mãn tính ( như khí phế thủng).

NGẠT THỞ DO DỊ VẬT

Nếu người bệnh bị khó thở đột ngột, tay ôm cổ, không thể nào nói được, nước da xanh tái, điều đó chứng tỏ họ đang bị nghẹt thức ăn hay một vật gì đó.

Bạn hãy bảo họ ho mạnh ra nếu có thể được. Nếu họ không đủ mạnh để ho tống những thứ mắc kẹt , và họ ngày càng cảm thấy khó chịu ở ngực, bạn hãy thực hiện ngay nghiệm pháp Heimlich : bạn đứng sau lưng nạn nhân, 2 bàn tay nắm lại và đặt ở thượng vị của nạn nhân, và thúc mạnh về phía sau và hướng lên trên làm cho dị vật rơi ra và rớt ra ngoài.

Nếu như nghiệm pháp này không hiệu quả, bạn hãy cho nạn nhân nằm ngữa, xoay đầu qua một bên. Bạn ngồi phía dưới nạn nhân, ngồi chống gối 2 bên .Đặt 2 bàn tay giữa rốn và lồng ngực, ấn mạnh lên trên thật nhanh.

Chú ý : đối với trẻ em và em bé. Bạn đặt bé nằm sắp ngang đùi bạn, cho đầu chút xuống, và bạn đấm nhẹ trên lưng bé.

Để cẩn thận hơn, bạn hãy đưa nạn nhân đến ngay bác sĩ.
(Theo Bs Phùng Hoàng Đạo)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Ở HN và TP HCM, nhiều người bệnh đường hô hấp, trẻ em, người tàn tật, người làm việc trí óc, chơi thể thao, những gia đình có chỗ ở chật hẹp, trên tầng cao... bắt đầu làm quen với việc mua khí oxy tinh khiết với giá 3.600 đồng/giờ thở.

Tiến sĩ Phạm Ngọc Châu, Phó Chủ nhiệm Bộ môn Vệ sinh và Y học Môi trường, Học viện Quân y:

Ô nhiễm không khí không đồng nghĩa với thiếu oxy: Hình ảnh dân chúng đi bộ hành ở một số thành phố trên thế giới có thở khí qua túi hay phải đeo mạng che mũi miệng là do không khí bị ô nhiễm bởi các chất khác. Đấy không phải vì vấn đề thiếu oxy. Vấn đề là họ thiếu không khí sạch và họ cần được hít thở trong một môi trường không khí không có các thành phần khí độc hại.

Không khí các TP lớn ở VN không thiếu oxy: Mức ô nhiễm không khí, nhất là ô nhiễm bụi ở Hà Nội, TP HCM và nhiều đô thị khác ở Việt Nam đang trở nên ngày càng nghiêm trọng. Ngoài ra còn gặp ô nhiễm do khí thải chất đốt, nhiên liệu như đốt than tổ ong, đốt nhựa đường, khí thải ống xả xe ô tô, xe máy nhất là động cơ cũ. Nhiều khi hít thở chúng ta có cảm giác tắc cổ là do sự kích thích và nhiễm độc của khí CO, H2S, NOx, SOx chứ không phải do thiếu oxy.

Oxy cung cấp đến tận nhà là loại tinh khiết 99,9%, chuyên dùng cho phi công do nhà máy A34 và A41 Quốc phòng sản xuất. Khí được chia nhỏ vào các bình với dung tích từ 2 đến 40 lít. Những bình oxy được chuyển đến nhà kèm theo một bộ ống thở. Khi sử dụng, người dùng chỉ cần đưa ống oxy vào mũi và có thể ngồi hay nằm tuỳ ý để thở.

Giá phải trả để được thở khí oxy tinh lọc khá bình dân. Bình loại 14 lít với thể tích khí nén là 1.500 đồng/lít. Một người bình thường có thể thở trong vòng 12,5 giờ (mỗi người trung bình thở 2,4 lít/phút). Giá một bình 14 lít là 45.000 đồng, tức là mỗi giờ thở chỉ phải trả 3.600 đồng.

Thiếu oxy làm cho con người mất khả năng tập trung, mệt mỏi, dễ đau đầu, chóng mặt, sớm lão hoá... Các văn phòng làm việc kín tập trung đông người có thể lắp hệ thống bổ sung khí oxy và xả khí vào phòng trong những khoảng thời gian nhất định.

Dịch vụ cung cấp khí oxy để thở đến tận nhà mới được công ty TM Thiện Chí cung cấp tại Hà Nội từ tháng 1, còn tại TP HCM, công ty Cổ phần Lá Xanh bắt đầu cung cấp dịch vụ này từ tháng 4/2004. Khách hàng chủ yếu của công ty TM Thiện Chí lúc đầu là những bệnh nhân liên quan đến đường hô hấp. Sau đó, cả trẻ em, người tàn tật, những gia đình có chỗ ở chật hẹp cũng rục rịch đến mua. Người có nhu cầu mua oxy là những người thường xuyên làm việc trí óc căng thẳng trong phòng máy lạnh, trong môi trường độc hại hoặc ở chỗ đông người, trong không gian chật hẹp, ngồi lâu trong xe hơi, nghiện rượu bia, thuốc lá…

Bác Kỳ, một khách hàng bị bệnh hen suyễn ở Nguyễn Trường Tộ (Hà Nội) cho hay từ khi có dịch vụ này, những lúc lên cơn hen cả nhà không phải lo sốt vó khi đưa bác đi cấp cứu như trước đây nữa. Một trong những khách hàng thuộc nhóm không có bệnh cho biết: “Sau khi tập thể thao được thở một chút oxy tinh lọc thấy thoải mái và dễ chịu lắm”.

Theo dự báo của các chuyên gia, trong những năm tới, tại các nút giao thông ở những đô thị lớn, nồng độ CO và NO2 có thể vượt 9 lần, SO2 vượt 7 lần, chất hữu cơ bay hơi (VOC) vượt 33 lần tiêu chuẩn cho phép... làm tăng đột biến các căn bệnh đường hô hấp. Chính vì thế, mạng lưới trạm dưỡng khí oxy tại các điểm trong thành phố sẽ được hình thành để phục vụ những người có nhu cầu thở không khí sạch trong khoảng thời gian nhất định.

Tại TP HCM, số lượng khách hàng của loại dịch vụ này hiện gấp hàng chục lần so với ở Hà Nội. Đối tượng chủ yếu của dịch vụ là những người sống tại các khu chung cư cao tầng, nơi các nhà khoa học cảnh báo bắt đầu xuất hiện hội chứng cao ốc không khí bị ô nhiễm nghiêm trọng.
(Theo VNDOC 's Blog sưu tầm)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Chiều 31/10, các bác sĩ Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết, vừa phát hiện trong phổi của cháu Đinh Thành Long, 11 tuổi ở Cẩm Khê, Hải Dương có 2 ký sinh trùng lạ hút máu trong phổi.

Theo lời kể của người nhà bệnh nhi, cách đây hơn chục ngày, cháu Long đột nhiên ho ra máu tươi, mỗi lần 1 chén nhỏ. Cháu được đưa đến Bệnh viện Đa khoa Hải Dương song các bác sĩ không tìm ra nguyên nhân.

Ngày 22/10, cháu được chuyển đến Bệnh viện Nhi Trung ương. Tại đây cháu được thăm khám, xét nghiệm, chụp phim nhưng các bác sĩ vẫn không tìm được nguyên nhân tại sao cháu ho ra máu.

Ngày 25/10, Tiến sĩ Đào Minh Tuấn, Phó trưởng khoa hô hấp, sử dụng phương pháp soi phế quản cho bệnh nhân, phát hiện từ hạ họng thanh quản đã có máu tươi chảy ra từ lòng khí quản. Lần theo đường máu chảy xuống phế quản thuỳ dưới phải, tại đây TS Tuấn đã phát hiện 1 tổ chức lạ, hình thỏi, dài, màu trắng đục lấp lỗ phế quản phân thuỳ 6 và máu chảy ra từ đây.

Sau khi bơm rửa phát hiện cấu trúc lạ là 1 con ký sinh trùng (kích thước dài 2,3cm, rộng 3,4mm) đang mải mê hút máu từ niêm mạc phế quản. Các bác sĩ đã bơm thuốc tê nồng độ cao cho sinh vật lạ tê liệt để gắp ra.

Tuy nhiên, hai ngày sau, bệnh nhân lại tiếp tục ho ra máu. TS Tuấn và kíp soi tiếp tục phát hiện 1 con ký sinh trùng khác tương đối giống con đầu tiên nhưng vị trí nằm khá sâu trong 1 phế quản nhỏ khác nên việc gắp ra khó khăn hơn nhiều.
TS Tuấn cho biết, đây là trường hợp hy hữu, nếu không phát hiện kịp thời để gắp ra bệnh nhi có thể nguy hiểm tính mạng vì mất nhiều máu. Hiện mẫu ký sinh trùng lạ hút máu trong phổi bệnh nhi đã được Bệnh viện Nhi gửi đến phòng thí nghiệm để các nhà khoa học định danh chính xác.
(Theo Dân trí)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Trong một tình huống sơ cấp cứu, bạn có thể đối mặt với một nạn nhân bị khó thở. Những chấn động tâm lý có thể gây nên các vấn đề về hô hấp làm ảnh hưởng đến các thành phần của máu, điều đó gây ra hàng lọat những triệu chứng khiến nạn nhân khó chịu. Những tai nạn có sự va chạm mạnh đến vùng ngực gây ra các vết thương sẽ gây nên sự khó thở nghiêm trọng.

SỰ THỞ QUÁ MỨC

Đây là một tình trạng khó thở gây ra do chấn động tâm lý khi gặp tai nạn hay một dạng của sốc tình cảm. Người bệnh sẽ thở quá mức, điều này dẫn đến nồng độ cacbonic trong máu giảm xuống. Dẫn đến những dấu hiệu và triệu chứng sau:

- Thở nhanh và cạn.

- Cảm thấy như bên sườn bị đinh ghim hay kim chích.

- Chóng mặt.

- Co cơ.

- Cơn hoảng sợ.

Sự giảm nồng độ cacbonic trong máu có thể chữa lại bình thường bằng cách hít thở chậm một túi giấy khoảng 10 lần sau đó thở bình thường trong 15 giây đến khi cơn thở nhanh chấm dứt.

CÁCH CHỮA TRỊ

1. Nếu nạn nhân không bị thương, chuyển họ ra khỏi hiện trường đến một nơi yên tĩnh và thóang người. Vì những nạn nhân thở nhanh này thường khó chịu với nhiều người tụ tập chung quanh, điều này càng làm họ tệ hơn.

2. Làm nạn nhân yên tâm bằng cách giữ bình tĩnh và luôn nói năng ô tồn vói họ. Giúp họ kiểm sóat lại hơi thở.

3. Nếu tình trạng này vẫn kéo dài, và bạn chắc rằng nạn nhân không bị những bệnh khác trước đó như suyễn hay bị thương ở ngực, hãy để nạn nhân hít ra thở vô một cái túi giấy. Lượng khí trong túi này chứa nhiều cacbonic hơn sau mỗi lần thở, điều này sẽ giúp lấy lại cân bằng nồng độ oxy và cacbonic trong máu.

4. Gọi bác sỹ hay cấp cứu nếu những triệu chứng ấy không chấm dứt. Đừng tán hay vỗ nạn nhân vì họ đang khó chịu và rất dễ gây hấn, họ sẽ tấn công lại bạn và bạn có nguy cơ bị buộc tội hành hung.

DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG XẸP PHỔI VÀ CÁC CHẤN THƯƠNG NGỰC KHÁC

- Tiền sử đã có va chạm vùng ngực hoặc trước đó đã có bệnh gây khó thở.

- Lồng ngực phồng lên khi nạn nhân thở ra (cách thở bất thường)

- Có những chỗ phồng hay lõm dọc xương sườn.

- Chỗ gãy hở.

- Khó thở.

- Thở đau.

- Sốc, thường thì ở mức độ nào đó của xuất huyết bên trong

- Chảy máu đỏ tươi, có bọt ở miệng hay mũi. (Đây là bằng chứng cho thấy sự thủng phổi khi máu đỏ tươi giàu oxy thóat khỏi hệ thống hô hấp. Có thể hoặc không liên quan đến việc vết thương hở ở ngực)

- Vết thương hở ở ngực.

CÁCH CHỮA TRỊ

Phải gọi cấp cứu sớm. Nếu nạn nhân còn tỉnh, họ sẽ dễ thở hơn khi ngồi duỗi hai chân. Đỡ nạn nhân ngồi tư thế đó nếu có thể và đỡ họ ngồi như vậy thật thoải mái. Nếu bạn biết chắc bên nào có chấn thương, đỡ nạn nhân về bên đó, nó sẽ giúp giảm sức ép lên phần phổi không chấn thương, giúp cho nạn nhân thở dễ hơn một chút.

Nếu có vết thương hở, hãy băng lại càng sớm càng tốt. Cách băng tốt nhất là dán 3 góc của vùng vết thương. Giúp nạn nhân lau máu ở miệng. Nếu nạn nhân bất tỉnh, đặt họ về tư thế hồi phục về bên phía bị thương và quan sát hơi thở họ cẩn thận. Chữa trị vết thương hở khi nạn nhân ở tư thế hồi phục. Chữa trị các xương sườn bị gãy.

TỔN THƯƠNG LỒNG NGỰC

Những tổn thương nghiêm trọng thường do các tai nạn, hoặc là hậu quả của các bệnh gây nên các vấn đề về hô hấp, dẫn đến xẹp phổi. Không khí vào những khoảng trống giữa phổi và lồng ngực gây nên khó thở. Trong những trường hợp nghiêm trọng, sức ép sẽ ảnh hưởng đến phần phổi không bị tổn thương và tim, gây nên sự căng và tràn khí màng phổi. Đây là tình trạng cần cấp cứu khẩn cấp nếu muốn cứu sống nạn nhân.

Tổn thương lồng ngực bị gãy từ hai xương sườn trở lên, thường gây khó thở ở nạn nhân vì lồng ngực không thể hoạt động hiệu quả. Cũng có thể có một vết gãy hở ở lồng ngực nơi mà những xương sườn bị nứt rạn. Nên nhớ rằng các xương sườn mở rộng và bao quanh phần lưng và ở đây có thể có những tổn thương nhiều hơn phía trước. Xem chương: Sự gãy nứt của xương sườn, trang 90-91.

Tổn thương ngực có thể đi kèm với những vết thương hở ở ngực (trang 64). Nơi đây là một lối đi trực tiếp từ phổi đến môi trường bên ngoài, gây ra bởi do các vật sắc bén đâm xuyên qua lồng ngực tạo nên các lỗ thủng.
(Theo BSGĐ)
-->đọc tiếp...

| 1 tin nhắn ]






-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Theo các nhà nghiên cứu Anh, kỹ thuật thở Buteyko có thể cải thiện các triệu chứng ở bệnh nhân hen và làm giảm nhu cầu sử dụng thuốc giãn phế quản. Kỹ thuật này bao gồm giảm nhịp thở, thở sâu dựa trên quan điểm cho rằng hen là do tăng thông khí và nồng độ carbon dioxid trong máu cao.

Các nhà khoa học đã nghiên cứu 90 bệnh nhân hen được hướng dẫn kỹ thuật Buteyko hoặc một thiết bị mô phỏng động tác hạn chế nhịp thở trong kỹ thuật thở yoga hoặc một thiết bị placebo không ngăn cản việc thở. Bệnh nhân áp dụng kỹ thuật Buteyko được các bác sĩ có trình độ hướng dẫn trong 5 buổi, mỗi buổi 2 giờ và thở theo cách này 2 lần/ngày. Họ cũng được hướng dẫn sử dụng băng dính để tránh thở bằng miệng khi ngủ, tránh stress và một số thức ăn.

Trong 69 bệnh nhân hoàn thành 6 tháng nghiên cứu, điểm đánh giá triệu chứng giảm trung bình là 3 ở nhóm Buteyko so với 1 ở nhóm Yoga và 0 ở nhóm placebo. Bệnh nhân Buteyko cũng giảm hai lần hít thuốc giãn phế quản/ngày. Không có sự thay đổi ở hai nhóm kia. Kỹ thuật Buteyko giúp bệnh nhân thích nghi với bệnh hen và kiểm soát tốt hơn quá trình điều trị.

Tuy nhiên, không có bằng chứng cho thấy bệnh có biến chuyển. Không có sự khác nhau về chức năng phổi, số cơn hen hoặc giảm liều corticosteroid đang hít giữa 3 nhóm.
(Theo Thorax)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




1. Xoa bóp chữa đau lưng và cổ công hiệu nhất

Một nghiên cứu của các nhà khoa học tại Đại học Y khoa Karolinska ở Thụy Điển cho thấy liệu pháp xoa bóp công hiệu hơn các chỉ định khác để chữa chứng đau nhức ở lưng và cổ. Nghiên cứu này đã được công bố trên tạp chí Đau nhức lâm sàng của Mỹ số ra mới đây.

Nghiên cứu nói trên do giáo sư Eva Skillgate hướng dẫn, được xem là cuộc điều tra chuyên ngành đầu tiên, mở ra khả năng hội nhập liệu pháp này với những cách chữa trị thường được áp dụng hiện nay. 409 trường hợp đau nhức lưng và cổ, được chia làm hai nhóm – một nhóm được điều trị bằng xoa bóp dọc xương sống và các khớp xương trong khi nhóm kia tuân theo những chỉ định khác của bác sĩ. Tuy nhiên, những người bệnh quá nặng không được theo dõi trong cuộc thí nghiệm này.

Sau 12 tuần điều trị, 69% bệnh nhân được xoa bóp thấy bớt đau trong khi tỉ lệ bớt đau ở nhóm bên kia là 42%. Tỉ lệ người khỏi đau hẳn trong nhóm được xoa bóp là 19% và chỉ có 7% người theo chỉ định khác hết đau hẳn. Giáo sư Skillgate cho rằng xoa bóp giúp phục hồi chức năng của cơ và khớp nhưng liệu pháp này cũng có thể được xem xét kết hợp với các bài tập vận động và chỉ định khác của thầy thuốc.
(Theo NLĐ)

2. Hoa làm thuốc chữa ho

Hoa đu đủ đực là một vị thuốc dân gian chữa ho trẻ em khá hiệu nghiệm. Hoa đã nở, hái ngay tại cây (khoảng 20-30 g), trộn với đường trắng hoặc mật ong, hấp cơm, nghiền nát, uống 2-3 lần trong ngày.

Để chữa ho do viêm phế quản, mất tiếng, lấy hoa đu đủ đực 15 g; lá hẹ 15 g, hạt chanh 10 g, nước 20 ml. Các dược liệu được nghiền nát với nước, thêm ít mật ong, uống làm 3 lần trong ngày. Dùng vài ngày.

Hoa hồng bạch cũng là thuốc chữa ho trẻ em rất công hiệu. Khi dùng, lấy cánh của một bông hoa tươi, một quả quất chín, nửa thìa cà phê đường kính hoặc mật ong, cho vào một chén con hấp chín rồi nghiền nát, trộn đều, gạn lấy nước cho trẻ uống làm nhiều lần trong ngày.

Còn hoa nhài khi nấu canh cùng mộc nhĩ sẽ trở thành món ăn bổ tỳ, ích phế, chữa ho: Cánh hoa nhài 24 g, rửa sạch, để khô, mộc nhĩ trắng 15 g, ngâm với nước nóng, rửa sạch, cắt bỏ cuống, thái nhỏ. Nước (một bát) đun sôi, cho rượu vang 9 g, ít muối và gia vị đủ đậm rồi cho mộc nhĩ vào nấu chín. Đổ ra bát rắc cánh hoa nhài lên mặt canh trộn đều, ăn trong ngày.
(Theo VnExpress)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Các bác sĩ Trung Quốc đã phẫu thuật cho một bé gái gặp trục trặc về đường hô hấp, và kinh ngạc phát hiện thấy cỏ mọc trong phổi của em.

Bé gái 10 tháng tuổi, từ thành phố Chu Khẩu, tỉnh Hà Nam, ban đầu được chẩn đoán là viêm phổi, nhưng các triệu chứng lại không cải thiện sau vài ngày được điều trị.

"Vì thế chúng tôi đã phải đưa con bé đến một bệnh viện khác", ông Han, cha của bé cho biết.

Tại lần nhập viện thứ 3 vào bệnh viện đại học Trịnh Châu, cũng ở Hà Nam, cô bé được chẩn đoán bị tràn mủ-khí phế mạc (tức là có mủ và hơi hay khí trong xoang phế mạc), một dạng viêm phổi hiếm gặp, nhưng một lần nữa các triệu chứng bệnh vẫn còn dù đã qua điều trị.

Cuối cùng, các bác sĩ quyết định phẫu thuật mở lồng ngực.

"Chúng tôi ngạc nhiên khi tìm thấy một đoạn cỏ 3 cm mọc lên ở phổi phải cô bé", trưởng nhóm phẫu thuật Li Qun cho biết.

Các bác sĩ đã lấy mảnh cỏ ra, và cô bé hiện bắt đầu hồi phục. Cha mẹ bé cho biết nhánh cỏ trên giống với loại cỏ trong vườn nhà mà cô bé vẫn hay chơi đùa.

Các bác sĩ cho rằng có thể hạt cỏ đã bay vào mũi bé và đi theo đường hô hấp xuống phổi, rồi tìm thấy điều kiện cư trú thích hợp ở đây. Tuy nhiên, họ chưa bao giờ bắt gặp điều như vậy.
(Theo Ananova)
-->đọc tiếp...

| 2 tin nhắn ]




Hiếm ai trên thế giới này thấu hiểu được nỗi khó chịu của cơn ho bằng thầy giáo Nicholas Peake ở trường ĐH Central Lancashire (Anh). Mười ba năm nay ngày nào với thầy cũng là ác mộng: mỗi tiếng ho đến hàng trăm lần. Cơn lao lực dai dẳng này chỉ dịu đi khi ngủ.

Mỗi sáng thức dậy, thầy Nicholas có đúng 15 phút ngắn ngủi sống trong yên bình. Và rồi “lũ quỷ” ập tới, chúng quấy nhiễu suốt cả ngày như không bao giờ biết mệt. Cách duy nhất có thể “ém” chúng lại là nhai kẹo cao su - thứ mà thầy ghét cay ghét đắng.

Xuất hiện trên một kênh truyền hình Anh cuối tuần trước, ông thầy 57 tuổi tỏ ra gần như tuyệt vọng: “Tôi đã quá mệt mỏi và kiệt quệ. Hôm nào tôi cũng chỉ có hơn chục phút thư thái, sau đó thì ho đến rát cổ nổ hầu trong suốt 1-2 tiếng đồng hồ, rồi thì triền miên cho đến tận lúc đi ngủ.

Nếu bất chợt chúng kéo đến vào giữa đêm thì cả đêm đó tôi không sao lại giấc được nữa. Là giảng viên nhưng tôi buộc phải làm cái điều tệ hại nhất trước toàn thể sinh viên: nhai kẹo cao su bỗ bã trong lúc giảng bài.

Tôi đã thử trăm phương ngàn kế, ai mách gì cũng làm theo từ thuốc tây, châm cứu cho đến phép chữa bằng vi lượng đồng căn… Tuy nhiên chưa có phương thuốc nào điều trị được dứt điểm.

Nếu như ai đó có thể chữa khỏi căn bệnh này, tôi sẵn lòng hậu tạ họ 5.000 bảng Anh bấy lâu dành dụm”.

Mới đây, thầy Nicholas đã chuyển hẳn vào Trung tâm điều trị phổi North West thuộc bệnh viện Wythenshawe để bắt đầu chương trình nghiên cứu với các chuyên gia trường ĐH Manchester University, với hy vọng tìm ra thuốc chữa bệnh ho kinh niên quái gở.

Theo ước tính, số nạn nhân đồng cảnh với thầy Nicholas chiếm khoảng 10-20% dân số thế giới. Không ít trong số họ thậm chí còn ho liên tục cả đêm.
“Tôi kết hôn với vợ tôi, Mary Rose mới được vài tháng, nhưng có vẻ như cô ấy cũng đã phát ốm với tiếng ho khùng khục rồi. Đáng buồn thay, cho đến thời điểm này bệnh ho kinh niên vẫn còn là một ẩn số với các bác sĩ và giới khoa học”.
(Theo Dân trí)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]






-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Hen phế quản (HPQ) là một bệnh hay gặp. Biến chứng của HPQ rất nặng, nhưng người bệnh lại ít khi chú ý đến các biến chứng này.

Về mùa đông - xuân, thời tiết lạnh là điều kiện thuận lợi để các biến chứng của bệnh hen xảy ra, cho nên mọi người cần phải biết để phòng tránh.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hen là một hiểm họa của loài người, là một trong các bệnh mạn tính hay gặp nhất. Hiện nay trên thế giới có khoảng 300 triệu người hen, dự tính đến năm 2025 con số này tăng lên 400 triệu người.

Đông Nam Á là khu vực có độ lưu hành hen gia tăng nhanh: Malaysia 9,7%, Philippines 11,8%, Thái Lan 9,2%, Singapore 14,3%, Việt Nam khoảng 5%. Tử vong do hen mỗi năm có 200.000 trường hợp, Việt Nam có 3.000 ca.

Hen tiến triển từng đợt cấp, sau mỗi đợt, bệnh diễn biến nặng hơn và nguy hiểm hơn, là bệnh hay gây ra những biến chứng như:

Xẹp phổi: Hơn 1/3 trẻ em nằm trong bệnh viện vì hen bị biến chứng xẹp phổi. Xẹp phổi một thùy hoặc nhiều thùy là biến chứng gặp tỷ lệ khoảng 10% số bệnh nhân vào viện. Khi hen ổn định thì tình trạng xẹp phổi sẽ khỏi.

Nhiễm khuẩn phế quản: Thường là biến chứng ở các bệnh nhân bị hen mạn tính. Nhân các đợt chuyển mùa, các đợt rét, thời tiết thay đổi đột ngột trong ngày, độ ẩm không khí cao là điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn, virus gây viêm nhiễm vùng tai mũi họng, đường hô hấp dưới, gây các đợt cúm làm cho những triệu chứng bệnh hen nặng hơn. Bệnh nhân sốt, khó thở tăng, có đờm nhiều. Xét nghiệm máu, bạch cầu đa nhân trung tính tăng. Xét nghiệm đờm thấy bạch cầu thoái hóa và tạp khuẩn, có khi thấy vi khuẩn lao.

Giãn phế nang đa tiểu thùy: Sự đàn hồi của các phế nang ở bệnh nhân hen giảm dần theo thời gian, thở ra ít, thể tích khí cặn tăng. Còn gọi là bệnh khí phế thũng. Bệnh nhân khó thở khi gắng sức, thậm chí không thổi tắt được que diêm đốt cháy ở cách xa một ít. Ho khạc đờm nhiều, môi và đầu chi tím tái. Gõ phổi nghe tiếng rất vang, rì rào phế nang giảm, có khi mất. Tiếng tim xa xăm. Xquang: phổi quá sáng, cơ hoành hạ thấp, tim hình giọt nước, góc tâm hoành tù, các xương sườn nằm ngang và giãn rộng.

Tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất: Gặp ở khoảng 5% hen mạn tính. Do các phế nang giãn rộng, tại vùng phế nang giãn, mạch máu thưa thớt, nuôi dưỡng kém, áp lực trong phế nang tăng. Khi phải làm việc gắng sức hoặc ho mạnh, thành phế nang dễ bị bục vỡ. Thường các dấu hiệu lâm sàng ít khi rầm rộ, nên phải có Xquang phổi mới phát hiện được. Khi có tràn khí phải xử trí cấp cứu kịp thời. Tràn khí màng phổi hai bên là nguyên nhân gây đột tử ở người hen phế quản.

Tâm phế mạn tính: Gặp ở 5% bệnh nhân hen mạn tính và nặng. Thể hiện khó thở khi gắng sức, tím tái liên tục, đau vùng hạ sườn phải, gan có thể to hoặc mấp mé bờ sườn. Điện tâm đồ: Nhịp xoang nhanh, sóng P cao nhọn. Sóng S chiếm ưu thế ở các chuyển đạo trước tim. Hen phế quản có khả năng phục hồi chức năng hô hấp, cho nên thời gian dẫn đến tâm phế mạn của từng bệnh nhân khác nhau, có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, thậm chí lâu hơn.

Ngừng hô hấp kèm theo có tổn thương não: Do tình trạng suy hô hấp kéo dài, đưa đến thiếu ôxy não. Có lúc ngừng tim, ngừng hô hấp trong các thể hen nặng. Những trường hợp này thường có cơn ngạt thở đột ngột, dẫn đến tăng CO2 trong máu và gây tình trạng toan hỗn hợp, rồi cuối cùng đưa đến hôn mê và tử vong.

Suy hô hấp: Thường chỉ gặp ở những bệnh nhân nằm viện, bị hen cấp tính nặng hoặc hen ác tính. Bệnh nhân khó thở, tím tái liên tục, đôi khi ngừng thở, phải thở máy hỗ trợ. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây tử vong của bệnh hen.

Hen là một gánh nặng cho xã hội, theo OMS bệnh hen gây phí tổn cho loài người lớn hơn chi phí cho hai căn bệnh hiểm nghèo của thế kỷ là lao và HIV/AIDS cộng lại.

Biến chứng của hen phế quản còn nặng nề hơn. Do đó những người bị bệnh hen phế quản và mọi người trong toàn xã hội cần có sự hiểu biết để có ý thức điều trị bệnh hen ngay từ những giai đoạn đầu đúng theo chỉ dẫn của bác sĩ, tiến tới kiểm soát được cơn hen, giảm các cơn khó thở trong tuần, trong ngày là góp phần khống chế một cách có hiệu quả các biến chứng của bệnh hen.

Khi gặp cơn hen ác tính hay nghi có các biến chứng của hen thì phải khẩn cấp đưa người bệnh đến các cơ sở cấp cứu ở bệnh viện để khám và xử trí kịp thời.
(Theo Sức khỏe & đời sống)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]






-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Các triệu chứng điển hình của suyễn

Các triệu chứng của suyễn khác nhau tuỳ người và tuỳ từng thời điểm. Điều quan trọng là phải nhớ rằng, những triệu chứng này có thể khó thấy và có thể tương tự với các triệu chứng được thấy ở các bệnh khác.

Tất cả các triệu chứng được đề cập sau đây cũng có thể hiện diện ở các bệnh hô hấp khác, và thỉnh thoảng cũng giống như ở các bệnh tim mạch. Sự lẫn lộn tiềm tàng này làm cho việc nhận biết các triệu chứng xuất hiện và xét nghiệm chẩn đoán trở thành rất quan trọng trong việc nhận ra rối loạn này.

4 triệu chứng chính để nhận dạng :

Khó thở - đặc biệt khi gắng sức hoặc ban đêm.

Khò khè - tiếng thở huýt sáo, thở rít khi thở ra.

Ho - có thể mãn tính; thường nặng hơn vào ban đêm và sáng sớm. Nhiều người suyễn xuất hiện sau khi gắng sức hoặc khi tiếp xúc không khí lạnh, khô.

Nặng ngực - có thể xuất hiện với có hay không có các triệu chứng trên.

Thực tế suyễn

Suyễn được phân loại theo tần số và độ nặng của triệu chứng, hoặc "cơn", các kết quả của xét nghiệm chức năng phổi.

30% người bị suyễn có các triệu chứng suyễn nhẹ, gián đoạn (ít hơn 2 cơn 1 tuần) với các xét nghiệm hô hấp bình thường.

30% có các triệu chứng suyễn nhẹ, dai dẳng (>= 2 cơn 1 tuần) với các xét nghiệm hô hấp bình thường.

40% có các triệu chứng suyễn vừa hoặc nặng, dai dẳng (mỗi ngày hoặc liên tục) với các xét nghiệm hô hấp bất thường.

Cơn suyễn cấp tính

Một cơn suyễn cấp tính, hoặc đột ngột, thường do tiếp xúc với các dị nguyên hoặc một nhiễm trùng đường hô hấp trên. Ðộ nặng của cơn phụ thuộc vào bệnh suyễn cơ bản của bạn đang được kiểm soát tốt như thế nào (phản ánh sự viêm đường hô hấp được kiểm soát tốt như thế nào). Một cơn cấp có thể đe dọa tính mạng bởi vì nó có thể vẫn tiếp diễn dù bạn có dùng thuốc cắt cơn thông thường (dãn phế quản hít) đi chăng nữa.

Cơn suyễn mà không đáp ứng với điều trị bằng 1 thuốc dạng hít thì bạn nên tìm đến chăm sóc y tế ngay tại các phòng cấp cứu bệnh viện gần nhất hoặc một phòng khám chuyên khoa suyễn, tùy thuộc vào hoàn cảnh và thời điểm trong ngày. Các cơn suyễn không tự dừng khi không có điều trị. Nếu bạn bỏ qua các dấu hiệu cảnh báo sớm, bạn tự đặt mình vào nguy cơ xuất hiện "suyễn ác tính" (trạnh thái suyễn).

Sự thật dị ứng.

Các cơn suyễn kéo dài mà không đáp ứng với điều trị bằng thuốc dãn phế quản là một cấp cứu nội khoa. Thầy thuốc gọi các cơn suyễn nặng này là "suyễn ác tính" và chúng cần điều trị cấp cứu ngay.

Các triệu chứng của suyễn nặng là ho dai dẳng và không thể nói thành câu hoàn chỉnh hoặc không thể đi mà không khó thở. Ngực bạn có thể cảm thấy bị thắt chặt và môi bạn có thể có màu xanh tím. Ngoài ra, bạn có thể cảm thấy bị kích động, lẫn lộn, hoặc mất khả năng tập trung. Bạn có thể cúi khom người ra trước, ngồi hoặc đứng để thở dễ dàng hơn, và làm căng cơ bụng và cổ của bạn. Ðây là các dấu hiệu của sự suy hô hấp sắp xảy ra. Lúc này, các thuốc qua đường hít sẽ không thể đảo ngược tiến trình này.

Thông khí cơ học có thể cần thiết để hỗ trợ phổi và các cơ hô hấp. Một cái mặt nạ hoặc một ống thở được gắn vào mũi hoặc miệng cho điều trị này. Các hỗ trợ hô hấp này là tạm thời và được lấy bỏ một khi cơn suyễn đã giảm đi và phổi đã hồi phục đầy đủ để bắt đầu lại công việc hô hấp của chính nó. Nằm viện một thời gian ngắn trong một đơn vị chăm sóc tích cực có thể là do một cơn suyễn nặng mà không được điều trị ngay tức khắc. Ðể tránh việc nằm viện như thế, tốt nhất, lúc khởi đầu của triệu chứng, là bắt đầu điều trị sớm ngay tại nhà hoặc ở phòng khám của bác sĩ.

Sự hiện diện của khò khè hoặc ho tự nó không phải là tiêu chuẩn đáng tin cậy cho việc phán đoán độ nặng của cơn suyễn. Trong các cơn suyễn rất nặng thì các phế quản có thể bị bít tắc đến mức mà sự thiếu khí vào và ra khỏi phổi của bạn thậm chí không tạo ra được tiếng khò khè hoặc ho.

Suyễn được điều trị như thế nào?

Hầu hết các thuốc trị suyễn tác dụng bởi việc làm dãn co thắt phế quản (các thuốc dãn phế quản) hoặc giảm viêm (corticosteroids). Trong điều trị suyễn, các thuốc dạng hít thường được ưa chuộng hơn các thuốc dạng viên hoặc dịch để uống (các thuốc qua đường uống). Các thuốc dạng hít tác dụng trực tiếp trên bề mặt đường dẫn khí và các cơ đường dẫn khí nơi mà các rối loạn của suyễn bắt đầu.

Sự hấp thu các thuốc dạng hít vào phần còn lại của cơ thể thì rất nhỏ. Do đó, các tác dụng phụ thì ít hơn so với các thuốc dạng uống. Các thuốc dạng hít bao gồm các thuốc kích thích beta-2, các thuốc kháng cholinergics, các corticosteroids, và cromolyn sodium. Các thuốc dạng uống bao gồm aminophyllin, và các viên corticosteroids.

Theo cổ điển, một trong những thuốc đầu tiên được dùng cho suyễn là adrenaline (epinephrine). Adrenaline có khởi đầu tác dụng nhanh trong việc mở rộng đường dẫn khí (dãn phế quản). Nó thường được sử dụng trong các tình huống cấp cứu suyễn. Tuy nhiên, adrenaline có nhiều tác dụng phụ bao gồm nhịp tim nhanh, đau đầu, buồn nôn, nôn, không yên, và cảm giác hoảng sợ.

Các thuốc có công thức hoá học tương tự adrenaline đã được phát triển. Những thuốc này, được gọi là kích thích beta-2, có lợi ích dãn phế quản của adrenaline mà không có nhiều tác dụng phụ không mong muốn của nó.

Các thuốc kích thích beta-2 là các thuốc dãn phế quản dạng hít, chúng được gọi là "kích thích" vì chúng thúc đẩy hoạt động của các thụ thể beta-2 ở cơ trơn phế quản. Thụ thể này hoạt động để làm dãn thành cơ trơn của phế quản, gây dãn phế quản. Hoạt động dãn phế quản của các thuốc kích thích beta-2 bắt đầu trong vòng vài phút sau khi hít thuốc và kéo dài khoảng 4 giờ. Các ví dụ của những thuốc này bao gồm albuterol (Ventolin, Proventil), metaproterenol (Alupent), pirbuterol acetate (Maxair), và terbutaline sulfate (Brethaire).

Một nhóm thuốc kích thích beta-2 tác dụng kéo dài đã được phát triển, thời gian hiệu quả được duy trì 12 giờ. Những thuốc dạng hít này có thể dùng 2 lần một ngày. Salmeterol xinafoate (Serevent) là một ví dụ của nhóm thuốc này. Các thuốc kích thích beta-2 tác dụng kéo dài thường không được dùng cho các cơn cấp. Các thuốc kích thích beta-2 có thể có các tác dụng phụ, như lo lắng, run, đánh trống ngực hoặc nhịp tim nhanh và làm hạ kali máu.

Cũng như các thuốc kích thích beta-2 có thể làm dãn đường dẫn khí, các thuốc ức chế beta làm suy yếu sự dãn cơ trơn phế quản bởi các thụ thể beta-2 và có thể gây ra co thắt đường dẫn khí, làm suyễn nặng lên. Do đó, các thuốc ức chế beta, như các thuốc điều trị tăng huyết áp propanolol (Inderal), và atenolol (Tenormin) nên được tránh ở các bệnh nhân suyễn.

Các thuốc kháng cholinergic tác dụng trên một kiểu thần kinh khác với các thuốc kích thích beta để đạt được sự

dãn và mở đường dẫn khí tương tự. Hai nhóm thuốc dãn phế quản dạng hít này khi được dùng chung với nhau có thể tạo ra hiệu quả dãn phế quản tăng cường.

Một ví dụ của thuốc kháng cholinergic được dùng thường gặp nhất là ipratropium bromide (Atrovent). Ipratropium tác dụng chậm hơn so với các thuốc kích thích beta-2, với tác dụng đỉnh xuất hiện 2 giờ sau uống và kéo dài 6 giờ. Các thuốc kháng cholinergic có thể là những thuốc rất hữu ích cho bệnh nhân có khí phế thủng.

Khi các triệu chứng của suyễn khó kiểm soát bởi các thuốc kích thích beta-2, thì các corticosteroid (cortisone) hít thường được thêm vào. Các corticosteroids có thể cải thiện chức năng phổi và giảm sự tắc nghẽn đường dẫn khí theo thời gian. Các thí dụ của các thuốc corticosteroid hít bao gồm beclomethasone dipropionate (Beclovent,

Beconase, Vancenase, và Vanceni), triamcinolone acetonide (Azmacort), và flunisolide (Aerobid). Liều lý tưởng của corticosteroid vẫn chưa được biết rõ. Tác dụng phụ của các thuốc corticosteroid bao gồm khàn tiếng, mất giọng, và nhiễm nấm ở miệng. Sử dụng corticosteroids hít sớm có thể ngăn chặn tổn thương không hồi phục cho đường dẫn khí.

Cromolyn sodium (Intal) ngăn chặn sự giải phóng các hoá chất trung gian trong phổi, như là histamine, chất có thể gây ra suyễn. Cromolyn hoạt động ngăn chặn suyễn một cách chính xác như thế nào cần được nghiên cứu thêm.

Cromolyn không phải là một corticosteroid và thường không phối hợp với các tác dụng phụ quan trọng. Cromolyn hữu ích trong việc ngăn chặn suyễn nhưng có hiệu quả hạn chế một khi suyễn cấp đã bắt đầu. Cromolyn có thể giúp ngừa cơn suyễn được khởi phát bởi gắng sức, khí lạnh, và các chất dị nguyên, như là lông mèo. Cromolyn có thể dùng ở trẻ em cũng như ở người lớn.

Theophylline (Theodur, Theostat, Theoair, Slo-bid, Uniphyll, Theo-24) và aminophylline là các ví dụ của methylxanthine. Các methylxanthine được dùng bằng đường uống hoặc tiêm tĩnh mạch. Trước khi các thuốc dạng hít trở nên phổ biến, methylxanthine là thuốc rường cột trong điều trị suyễn. Chất caffeine mà ở trong cà phê thông thường và các nước uống giải khát cũng là một thuốc methylxanthine! Theophylline làm thư dãn các cơ bao quanh đường dẫn khí, và ngăn chặn các tế bào lót phế quản (tế bào mast) khỏi việc giải phóng hoá chất, như histamine, chất có thể gây ra cơn suyễn.

Theophylline cũng có thể tác dụng như một thuốc lợi tiểu nhẹ, gây tăng lượng nước tiểu. Ðối với suyễn khó kiểm soát, methylxanthine cũng có thể còn đóng một vai trò quan trọng. Các mức liều lượng của theophylline hoặc methylxanthine được theo dõi sát. Các mức quá cao có thể gây buồn nôn, nôn, các rối loạn nhịp tim, và thậm chí co giật. T

rong vài bệnh cảnh nhất định, như suy tim hoặc xơ gan, liều methylxanthine được giảm thấp để tránh nồng độ trong máu quá cao. Sự tương tác với các thuốc khác, như cimetidine (Tagament), các thuốc ức chế kênh canxi (Procardia), quinolones(Cipro), và allopurinol (Xyloprim) có thể ảnh hưởng thêm nồng độ thuốc trong máu.

Các thuốc corticosteroids được dùng bằng đường uống cho suyễn nặng không đáp ứng với các thuốc khác. Tuy nhiên, liều cao của corticosteroids qua một thời gian dài có thể có các tác dụng phụ trầm trọng, bao gồm loãng xương, gãy xương, đái tháo đường, tăng huyết áp, mỏng da và dễ bầm máu, mất ngủ, thay đổi tính tình, và tăng cân.

Các thuốc long đàm giúp làm loãng đàm, làm cho đàm dễ khạc ra hơn. Kali iod thường được dùng nhưng có khả năng gây ra tác dụng phụ là mụn trứng cá, tăng nước bọt, phát ban, và rối loạn tuyến giáp. Guaifenesin (Entex, Humibid) có thể gây tăng tiết dịch trong phổi và giúp làm loãng chất nhầy, nhưng cũng có thể là chất kích thích đường dẫn khí đối với vài bệnh nhân.

Cùng với các thuốc dãn phế quản cho các bệnh nhân bị suyễn có cơ địa dị ứng, việc tránh các dị nguyên hoặc các chất kích thích có thể rất quan trong. Ở những bệnh nhân không thể tránh dị nguyên, hoặc ở những người mà triệu chứng không thể được kiểm soát bởi thuốc, sự thử dị nguyên có thể được xem xét.

Lợi ích của thử dị nguyên (giải mẫn cảm) trong việc ngừa suyễn vẫn chưa được thiết lập chắc chắn. Vài bác sĩ vẫn còn lo ngại về nguy cơ sốc phản vệ, cái mà xuất hiện ở 1 / 2 triệu liều được cho. Thử dị nguyên thường có lợi nhất ở trẻ em bị dị ứng với mạt nhà. Các lợi ích khác có thể được thấy với phấn cỏ, cỏ lưỡi chó, và lông thú.

Ở vài bệnh nhân bị suyễn, tránh dùng aspirin, hoặc các thuốc kháng viêm không steroid khác (thường dùng trong điều trị viêm khớp) là quan trọng. Ở những bệnh nhân khác, việc điều trị đầy đủ trào ngược acid dạ dày (trào ngược thực quản) ngừa sự kích thích đường dẫn khí. Các biện pháp để ngăn chặn trào ngược thực quản bao gồm thuốc, giảm cân, thay đổi chế độ ăn, và ngưng hút thuốc lá, ngưng uống cà phê và rượu.

Các thí dụ cho các thuốc dùng để giảm trào ngược bao gồm omeprazole (Prilosec, Losec), và ranitidine (Zantac). Những bệnh nhân có những rối loạn trào ngược nặng gây ra những rối loạn tại phổi có thể cần phẫu thuật để làm tăng sức mạnh cơ thắt thực quản để ngăn trào ngược acid. Ðể biết thêm thông tin, hãy đọc bài bệnh Trào ngược Dạ dày-thực quản.

Sơ lược về suyễn

Suyễn là sự viêm mãn tính các ống phế quản (đường dẫn khí) gây ra sưng phồng và hẹp (co thắt) đường dẫn khí. Sự hẹp phế quản thường là hồi phục hoặc toàn bộ hoặc ít nhất một phần với điều trị.

Hiện nay suyễn là bệnh viêm mãn tính thường gặp nhất ở trẻ em, ảnh hưởng 1 trong mỗi 15 em.

Suyễn chỉ liên quan đến các ống phế quản và không ảnh hưởng lên các túi phế nang hoặc nhu mô phổi. Sự hẹp xảy ra ở suyễn là do 3 yếu tố chính : viêm, co thắt phế quản, và tăng đáp ứng.

Dị ứng có thể đóng một vai trò trong một số trường hợp, nhưng không phải tất cả bệnh nhân bị suyễn.

Nhiều yếu tố có thể thúc đẩy cơn suyễn và chúng được phân loại hoặc là dị nguyên hoặc là chất kích ứng.

Các triệu chứng của suyễn bao gồm khó thở, khò khè, ho, và nặng ngực.

Suyễn được chẩn đoán dựa trên sự hiện diện của khò khè và được khẳng định bởi các xét nghiệm hô hấp.

X quang ngực thường bình thường ở các bệnh nhân bị suyễn.

Việc tránh các yếu tố thúc đẩy là quan trọng trong việc điều trị suyễn.

Các thuốc có thể được dùng để đảo ngược hoặc ngăn chặn co thắt phế quản ở bệnh nhân bị suyễn.
(Theo BSGĐ)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]






-->đọc tiếp...

/
Chào các bạn, bạn đã vào trang Benhtimmach.com chưa, đây là trang tư vấn sức khoẻ miễn phí chuyên sâu về lĩnh vực tim mạch click here