Chào các bạn, mời bạn quảng cáo banner tại đây kích thước 500x70 - giá mềm 700.000/tháng. liên hệ suckhoegd@gmail.com. Mr.Cường



| 0 tin nhắn ]

Suy thận cấp là một hội chứng do nhiều nguyên nhân khác nhau, thường gặp trong hồi sinh cấp cứu. Gọi là suy thận câp khi creatinine trong huyết thanh tăng 50% hoặc lọc cầu thận giảm 50% so với trị số cơ bản (baseline).

Nguyên nhân và sinh lý bệnh

Có ba nhóm nguyên nhân gây suy thận cấp: suy thận trước thận, tại thận và sau thận.

1. Suy thận cấp trước thận

Các nguyên nhân giảm thể tích máu nội mạch làm giảm tưới máu thận như sốt cao, nôn mửa, tiêu chảy, thiếu nước do mọi nguyên nhân. Trong tình trạng sinh lý bình thường, khi thể tích lưu thông giảm, các thụ thể cảm áp (baroreptors) ở xoang động mạch cảnh và ở tim được họat hóa làm tăng họat động của hệ thần kinh giao cảm, hệ thống renin-angiotensin-aldosterone và tiết argininevasopressine (AVP-trước đây gọi là antidiuretic hormone) mà hậu quả là co mạch ở những vùng không chủ yếu để bảo vệ các bộ phận chủ yếu là tim và não. Khi tưới máu thận giảm, cơ chế tự điều chỉnh (autoregulation) của thận cùng với prostaglandins và prostacyclin làm giãn động mạch tới vi cầu (afferent arterioles).

Trong khi đó angiotensin II làm co động mạch rời vi cầu (efferent arterioles). Kết quả là áp suất trong cầu thận được duy trì do đó duy trì lọc cầu thận. Cơ chế tự điều chỉnh có tác dụng tối đa khi áp huyết động mạch trung bình (mean arterial blood pressure) ở vào khoảng 80 mmHg, khi áp huyết hạ dưới mức này cơ chế tự điều chỉnh không còn hữu hiệu nên lọc cầu thận giảm, gây ra suy thận trước thận.


Hệ thống lọc của thận

Những người lớn tuổi và những người có bệnh mạch máu như xơ vữa động mạch, tiểu đường, nhậy cảm với tình trạng hạ huyết áp hơn người thường. Một số thuốc cản trở sự vận hành của cơ chế tự điều chỉnh tuần hoàn trong cầu thận như các thuốc ức chế sự tổng hợp prostaglandin (thuốc chống viêm không steroid) hoặc ức chế men chuyển và ức chế thụ thể angiotensin II tăng nguy cơ suy thận ở người mà tưới máu thận giảm.

2. Suy thận cấp tại thận

Nhiều bệnh tổng quát gây tổn thương tại thận làm giảm lọc cầu thận. Các tổn thương có thể ở ống thận, cầu thận, mô kẽ, và mạch máu thận. Tổn thương ống thận thường do thiếu máu cục bộ (ischemia) hoặc do chất độc với thận. Thiếu máu cục bộ có thể do xuất huyết, trụy mạch, sốc nhiễm trùng. Chất độc với thận có thể là hóa chất, kháng sinh như aminoglycosides, acyclovir, chất cản quang hoặc chất độc nội sinh như hemoglobin và myoglobin.

Nếu tưới máu thận tiếp tục giảm các tế bào ống thận sẽ bị hoại tử làm cho suy thận cấp trước thận có tính chất cơ năng trở thành suy thận cấp có tổn thuơng cơ thể gọi là hoại tử ống thận cấp. Hoại tử ống thận cấp tiến triển qua ba giai đọan: giai đọan khởi đầu, giai đoạn duy trì và giai đoạn phục hồi. Sau biến cố đầu tiên gây tổn thương ở thận, lọc cầu thận giảm trong một đến hai tuần sau đó dần dần hồi phục. Hiện nay chưa có cách nào làm cho thận phục hồi nhanh hơn do đó cần ngăn ngừa hoại tử ống thận cấp như hồi sức tích cực, tránh các chất độc với thận.

Viêm cầu thận cấp thường có biểu hiện tổng quát như sốt, nổi ban, đau khớp, do nhiễm liên cầu trùng hoặc hồng ban đỏ (lupus erythrematosus) hoặc các bệnh hệ thống khác. Bệnh nhân thường tiểu ra máu, trong nước tiểu có trụ hồng cầu, và chất đạm (protein). Viêm mô kẽ cũng có thể gây suy thận cấp.

Viêm thận kẽ cấp có thể do dị ứng với thuốc, bệnh nhiễm trùng, bệnh thâm nhiễm (infiltrative diseases). Triệu chứng của viêm thận kẽ có thể gồm sốt, nổi ban, tế bào ái toan tăng trong máu và nước tiểu….

Các bệnh mạch máu gồm cả mạch máu nhỏ và mạch máu lớn. Các bệnh mạch máu nhỏ thường thể hiện bằng thiếu máu tán huyết do bệnh vi mạch và suy thận cấp do nghẹt hoặc tắc các mạch máu nhỏ. Các bệnh mạch máu lớn thường sẩy ra ở người lớn tuổi do hẹp hoặc tắc động mạch thận, huyết khối do rung nhĩ, hoặc bóc tách động mạch chủ cấp tính (acute dissection).

3. Suy thận cấp sau thận

Tắc nghẽn hoặc chèn ép đường dẫn nước tiểu cũng gây suy thận cấp. Các nguyên nhân có thể là tiền liệt tuyến lớn, u bướu, hoặc sạn…Cần tìm các nguyên nhân cơ học để lọai bỏ hầu phục hồi chức năng thận. Siêu âm là một phương tiện dễ dùng, không độc hại giúp chẩn đoán sự ứ nước tiểu do nguyên nhân cơ học.

Chẩn đoán

Hỏi bệnh sử giúp tìm nguyên nhân có thể gây suy thận cấp, thăm khám lâm sàng tìm dấu hiệu suy thận và nguyên nhân. Một số trường hợp được phát hiện do theo dõi hàng ngày ở những bệnh nhân nặng trong bệnh viện. Cần xét nghiệm bổ túc để đánh giá tình trạng và phân biệt chẩn đoán.

* Nước tiểu lấy ở phòng cấp cứu, trước khi truyền dịch hoặc cho thuốc có giá trị chẩn đoán phân biệt. Nước tiểu bình thường trong suy thận trước thận, ngược lại thường có trụ hạt nâu, tế bào biểu mô và trụ biểu mô trong hoại tử ống thận cấp. Tỉ trọng nước tiểu trên 1.020 trong suy thận trước thận, dưới 1.020 trong hoại tử ống thận. Lượng sodium thấp dưới 20 mEq/L trong suy thận trước thận, cao trên 40 mEq/L trong hoại tử ống thận cấp. Phân suất thải sodium (Fractional Excretion of Sodium–FE Na) là một chỉ dẫn tốt để phân biệt suy thận trước thận và suy thận do hoại tử ống thận,  FE Na dưới 1% trong suy thận trước thận, trên 2% trong hoại tử ống thận cấp. Osmolality của nước tiểu dưới 450 mosmol/L trong hoại tử ống thận, cao trên 500 mosmol/L trong suy thận trước thận phản ảnh tác dụng của kích thích tố kháng lợi niệu (antidiuretic hormone-AVP) do tình trạng thiếu thể tích trên ống thận bình thường. Thể tích nước tiểu thấp trong suy thận trước thận vì thận bình thường giữ lại nước và sodium, ngược lại có thể thấp hoặc bình thường trong hoại tử ống thận cấp. Tỉ số Creatinine trong nước tiểu và máu cao trên 40 trong suy thận trước thận vì trong tình trạng thiếu nước ống thận còn nguyên vẹn tái hấp thu nước nên creatinin tập trung cao trong nước tiểu, ngược lại tỉ số này thấp dưới 20 trong hoại tử ống thận. Cần lưu ý rằng các chỉ số trên không có giá trị khi bệnh nhân đã có bệnh thận từ trước vì khả nặng cô đặc nước tiểu vốn đã bị rối lọan. Trong trường hợp này có thể thử truyền một lượng dịch để theo dõi sự đáp ứng nếu nghi ngờ bệnh nhân bị thiếu nước.

* Các dấu sinh học mới

Lipocalin trung tính liên hệ với gelatinase (Neutrophil gelatinase-associated lipocalin-NGAL) có tác dụng bảo vệ và giúp sinh sản tế bào ống thận thể hiện mạnh mẽ sau khi thận bị thiếu máu cục bộ (renal ischemia). Một nghiên cứu dựa trên 71 trẻ em đưoc điều trị bằng tim-phổi nhân tạo (cardiopulmonary bypass) cho thấy rằng nồng độ của NGAL 50µg/L trong nước tiểu 2 giờ sau điều trị là chỉ dẫn của tổn thương thận với độ nhậy 100%, độ chuyên biệt 98%. Các dấu sinh học khác đã được khảo sát là nồng độ Cystatin C trong hyết thanh, Phân tử Tổn thương Thận-1 (Kidney Injury Molecule-1, KIM-1) và interleukin-18.

Xử trí

Bệnh nhân cần được thăm khám toàn diện và theo dõi sát về tri giác, hô hấp, tuần hoàn, sinh hiệu, lượng nước xuất nhập, chức năng thận và chất điện giải. Cần tìm và điều trị nguyên nhân gây suy thận cấp. Cần ổn định tình trạng tim mạch, cân bằng nước và chất điện giải tránh dùng các thuốc độc với thận. Dinh dưỡng chủ yếu dựa vào carbohydrates, hàm lượng đạm trong phần ăn cần được quân bằng ở mức 0.6g/kg/ngày.  Chỉ dùng sodium bicarbonate khi có toan chuyển hóa nặng với pH dưới 7.2 hoặc bicarbonate dưới 10-15 mEq/L. Potassium dưới 6 mEq/L có thể kiểm soát được bằng cách điều chỉnh chế độ ăn. Khi triệu chứng và rối lọan điện giải không kiểm sóat được bằng điều trị bảo tồn cần lọc máu thay cho thận. Có thể lọc màng bụng hay thận nhân tạo tùy từng trường hợp và tùy điều kiện tại chỗ. Chỉ định lọc máu thay cho thận gồm: toan huyết, rối lọan điện giải không kiểm soát được bằng thuốc, thể tích quá tải, BUN trên 100mg/L, chảy máu, viêm màng ngoài tim, bệnh não.

Một số thông tin mới

* Tác dụng của acetylcysteine: Các nghiên cứu chứng tỏ rằng acetylcysteine 600 mg uống hai lần mỗi ngày một ngày trước và trong ngày làm các thủ thuật X quang với chất cản quang có thể giảm được tỉ lệ phát bệnh (incidence) của suy thận cấp.

*Dopamine: Các nghiên cứu cho thấy rằng dopamine truyền tĩnh mạch 2mcg/kg/phút không có tác dụng ngăn ngừa suy thận cấp mà lại có thể gây rối lọan nhịp tim.

*Lợi tiểu tác dụng trên quai Henle: Nghiên cứu cho thấy lợi tiểu không có lợi mà lại làm tăng tỉ lệ tử vong và làm chậm sự phục hồi chức năng thận.

*Sodium bicarbonate: Một nghiên cứu dựa trên 119 bệnh nhân cho thấy truyền dung dịch bicarbonate trước khi tiêm chất cản quang giảm nguy cơ suy thận do chất cản quang.

Dự hậu

Tỉ lệ tử vong chung của suy thận cấp là 50%, không thay đổi đáng kể trong 30 năm qua. Thông thường bệnh nhân không chết vì suy thận cấp nhưng chết vì bệnh căn bản gây suy thận. Tỉ lệ tử vong thay đổi tuy theo nguyên nhân: 15% trong nhóm sản khoa, 30% trong nhóm nội khoa, 60% ở những bệnh suy thận do chấn thương hoặc sau các giải phẫu lớn. Thiểu niệu (nước tiểu dưới 400ml/ngày), creatinine trên 3mg/dl khi nhập viện là các chỉ dẫn xấu. Tỉ lệ tử vong cao hơn ở người lớn tuổi và có bệnh của nhiểu bộ phận. Phần lớn bệnh nhân phục hồi đủ chức năng thận để sống bình thường, 50 % có những thay đổi về chức năng thận nhưng không có biểu hiện lâm sàng và 5 % không hồi phục, cần tiếp tục điều trị bằng lọc thận hoặc thay thận.

Theo megafun.vn
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Ảnh: People.com.

Trường hợp này có thể được coi là tai nạn hy hữu trong y học: một người đàn ông được cấy ghép thận từ một người phụ nữ mắc bệnh ung thư tử cung mà không hề hay biết. Kết quả anh cũng chết vì ung thư.

Vợ nạn nhân đã kiện Trung tâm y tế NYU (Mỹ) với lý do đã đặt cuộc sống của người bệnh vào vòng nguy hiểm khi không buộc anh bỏ quả thận mới được ghép ngay lập tức.

Là một người Singapore, anh Vincent Liew sinh sống và làm việc tại Mỹ. Mắc bệnh đái tháo đường khi còn nhỏ nên anh phải chạy thận nhân tạo 3 lần một tuần. Anh đã chờ đợi để được ghép thận trong suốt 5 năm. Và cuối cùng vào ngày 25/2/2002, anh đã được phẫu thuật tại Trung tâm y tế NYU.

"Chồng tôi đã rất phấn khởi và hạnh phúc. Nhưng anh ấy không ngờ mình đang mang 'một quả bom nổ chậm' trong cơ thể", vợ anh chị Kimberly Liew nói.

Theo The Telegraph, người cho Vincent thận là một phụ nữ 50 tuổi, bà Sandy Cabrera, chết vì đột quỵ ở Newburgh, New York, Mỹ. Tuy nhiên, kết quả khám nghiệm tử thi nhiều ngày sau cái chết của bà cho thấy, bà Sandy bị ung thư tử cung, các tế bào ung thư đã di căn đến phổi.

Đến giữa tháng 4/2002, các bác sĩ ghép thận cho Vincent mới biết thông tin này. Nhưng theo họ khả năng anh bị căn bệnh ung thư ở nữ giới là rất nhỏ nên anh đã quyết định giữ lại quả thận.

Đại diện Trung tâm y tế NYU cho biết, họ đã thông báo cho bệnh nhân về những nguy cơ có thể có và họ tôn trọng sự lựa chọn của bệnh nhân. Các bác sĩ vẫn tích cực theo dõi quả thận để phát hiện dấu hiệu của ung thư.

Các kết quả kiểm tra đều không cho thấy điều gì bất thường nhưng Vincent bị đau lưng và sau đó đã phải bỏ quả thận sau 6 tháng được cấy ghép. 3 tuần sau, anh qua đời ở tuổi 37.

Kết quả khám nghiệm tử thi cho thấy bệnh nhân chết vì căn bệnh ung thư, bắt nguồn từ việc cấy ghép thận và có các tế bào di truyền nữ dù không xác định được loại ung thư. Tuy nhiên, theo tiến sĩ Robert Gelfand, một chuyên gia về ung thư thì bệnh nhân chết vì ung thư tử cung.

“Điều này đáng lẽ không xảy ra. Nhưng đó không phải lỗi của bệnh viện, của bác sĩ phẫu thuật hay của Vincent”, luật sự đại diện cho trung tâm y tế bị kiện, Robert Elliott cho biết.

Bồi thẩm đoàn đã đưa ra phán quyết thứ sáu vừa rồi rằng Trung tâm y tế NYU không phải chịu trách nhiệm về cái chết của Vincent.

Theo luật sư đại diện của vợ nạn nhận thì có hai người khác cũng được cấy ghép nội tạng từ bà Sandy đã chết vì ung thư. Gia đình họ đã nhận được khoản bồi thường lớn nhưng không phải do kiện bệnh viện mà là bên cung cấp nội tạng.

Theo các chuyên gia, đây có thể là trường hợp duy nhất trên thế giới, bệnh ung thư tử cung được truyền sang người khác thông qua cấy ghép nội tạng. Điều này dấy lên những câu hỏi về tính an toàn của việc cấy ghép nội tạng.

Phương Trang-VNE

-->đọc tiếp...

| 1 tin nhắn ]

Chế độ dinh dưỡng hợp lý hằng ngày có vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa sỏi thận. Bên cạnh đó, cần uống 2 lít nước mỗi ngày. 

- Không nên dùng quá 2 - 3 sản phẩm sữa và cũng nên tránh ăn fomat với pa-tê chín, bởi chúng rất giàu canxi. 

- Cần tránh dùng nhiều những thức ăn giàu oxalat như sô-cô-la, cũng như vitamin với liều lượng lớn (khoảng 500 mg/ngày), quả khô...

- Đồ uống cũng như đồ ăn chứa nhiều đường hay muối sẽ kích thích bài tiết chất canxi trong nước tiểu làm tăng nguy cơ tạo chất kết tinh là nguồn gốc hình thành sỏi thận. 

- Nên hạn chế lượng protein cho mỗi gam trọng lượng, nghĩa là chỉ nên dùng khoảng 150g thịt, cá hay thịt gia cầm mỗi ngày (hoặc 2 - 3 quả trứng).

- Không nên ăn quá nhiều những thức ăn như: thịt ướp, thịt vụn, gan, bầu dục, cá trích, cá hồi, cá ngừ, viên nước cốt thịt nấu canh...

(VNDOC 's Blog - Theo TN)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Nước tiểu là một trong những tấm gương phản ánh sức khỏe của chúng ta. Chỉ cần nhìn vào nước tiểu, một người hiểu biết có thể biết được sức khỏe của mình thế nào ?

Dưới đây là một số nhận biết bệnh tật thông qua nước tiểu: 

Nếu nước tiểu… 

…màu như trà đặc - điều đó cho thấy bạn đang mắc các bệnh về gan và túi mật. 

Lời khuyên: hãy làm phân tích nước tiểu và ghé thăm bác sỹ chuyên khoa về gan. 

…chuyển sang màu hồng - đó là dấu hiệu của chứng viêm thận. Trừ khi trước đó bạn ăn cà rốt hoặc củ cải đỏ vì khi ăn thực phẩm này nước tiểu cũng sẽ chuyển sang màu hồng. 

Hiện tượng nước tiểu chuyển sang màu hồng cũng có thể xuất hiện sau khi bạn uống một số loại thuốc (điều này sẽ được ghi trong phần hướng dẫn sử dụng thuốc). 

Lời khuyên: bạn hãy nhanh chóng đến bác sỹ, vì bệnh của bạn có thể phải điều trị bằng kháng sinh. 


…không màu - hiện tượng này xảy ra sau khi bạn uống nhiều nước. Tuy nhiên, nếu nước tiểu thường xuyên không màu hoặc có màu vàng nhạt, đó là dấu hiệu liên quan đến thận. 

Lời khuyên: khi gặp hiện tượng này, bạn nên xin lời khuyên ở bác sỹ. 

…có cặn như cát – đó là dấu hiệu của việc xuất hiện sỏi thận. 

Lời khuyên: bạn nên đi siêu âm để kiểm tra xem có sỏi trong thận hay không. Hãy luôn uống nước sạch, không nên uống nước tại vòi vì đó có thể là nguyên nhân gây ra sỏi trong thận của bạn. 

…vẩn đục như có bông tuyết – đó là dấu hiệu viêm đường tiết niệu, viêm bàng quang. 

Lời khuyên: bạn nên hỏi ý kiến bác sỹ trong trường hợp này. 

… có nhiều bọt – nếu hiện tượng này xuất hiện ở đàn ông thì không có gì đáng lo ngại cả. Nước tiểu có bọt cho ta thấy rằng trong nước tiểu có tinh dịch. Hiện tượng này thường có sau khi quan hệ tình dục. 

Lời khuyên: bạn không cần phải làm gì trong trường hợp này. 

Cần phải làm gì để nhận được kết quả phân tích nước tiểu chính xác? 

- Chuẩn bị một lọ nhỏ 250 gam. 

- Cần phải rửa sạch và dội nước sôi vào lọ nhỏ để diệt hết vi khuẩn và nấm bẩn. 

- Lấy nước tiểu vào buổi sáng. Lấy khoảng 100 - 200ml. 

- Cần phải vệ sinh bộ phận sinh dục trước khi lấy nước tiểu. 

- Nếu bạn đang uống thuốc gì đó, hãy nói với bác sĩ về việc này. Bởi một số loại thuốc có thể ảnh hưởng đến việc phân tích nước tiểu.
(Theo VNDOC's Blog sưu tầm)

-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]






-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Tiểu máu là gì ?

Tiểu máu có nghĩa là có máu trong nước tiểu. Tiểu máu vi thể là tình trạng mà máu chỉ được thấy khi quan sát nước tiểu dưới kính hiển vi, trong khi tiểu máu đại thể có nghĩa là có máu trong nước tiểu đủ để thấy được bằng mắt. Dẫu số lượng máu trong nước tiểu có khác nhau, nhưng nhiều bệnh có thể gây ra tiểu máu giống nhau, do vậy việc chuẩn bị kỹ lưỡng hoặc đánh giá thì rất cần thiết để xác minh vấn đề này.

Vì máu trong nước tiểu phải xuất phát từ một trong những cơ quan có liên quan tới việc tạo ra hoặc vận chuyển nước tiểu, do đó việc đánh giá tiểu máu đòi hỏi chúng ta phải xem xét toàn bộ đường tiết niệu. Hệ thống cơ quan này bao gồm 2 thận, 2 niệu quản ( là ống dẫn nước tiểu từ thận tới bàng quang ), bàng quang, tiền liệt tuyến, niệu đạo ( là ống dẫn nước tiểu khỏi bàng quang ). Cần phải nhấn mạnh rằng dù chỉ có một chi tiết tiểu máu đơn độc, chúng ta cũng cần phải đánh giá kỹ dẫu nó tự hết.

Những nguyên nhân của tiểu máu là gì ?

Xác định tiểu máu bao gồm hỏi bệnh sử, thăm khám lâm sàng, quan sát nước tiểu dưới kính hiển vi và cuối cùng phải cấy nước tiểu. Hỏi bệnh sử cẩn thận bao gồm hỏi người bệnh có tiểu máu liên tục hay không liên tục, có đau hay khó chịu kèm theo không, tiểu máu đầu dòng, cuối dòng hay toàn dòng và cuối cùng hỏi về tiểu sử cá nhân có hút thuốc, sỏi thận, tổn thương đường tiết niệu, khó tiểu hoặc những đánh giá về hệ tiết niệu trước đây không .

Nều không có vấn đề gì thì làm sao tiểu máu xảy ra được. Do vậy việc đánh giá toàn bộ thì hầu như luôn luôn cần thiết để loại trừ bệnh nền tảng rất nặng như là ung thư chẳng hạn. Thường có 3 xét nghiệm chẩn đoán cần cho chúng ta quan sát toàn bộ đường tiết niệu bao gồm chụp cản quang thận - niệu quản bằng đường tĩnh mạch, nội soi bàng quang, và xét nghiệm tìm tế bào bất thường trong nước tiểu .

Chụp cản quang thận - niệu quản bằng đường tĩnh mạch để đánh giá đường tiết niệu. Trong quá trình này một chất cản quang được tiêm vào tĩnh mạch và nó sẽ được lọc qua đường tiết niệu. Một loạt X-quang sẽ được chụp cách nhau khoảng 30 phút để tìm những bất thường. Xét nghiệm này đặc biệt dùng để đánh giá 2 thận và niệu quản, nhưng không đánh giá được bàng quang, tiền liệt tuyến và niệu đạo. Do vậy, xét nghiệm thứ hai gọi là nội soi bàng quang thì cần thiết. Trong tiến trình này, có một ống soi nhỏ hoặc ống soi bàng quang được dùng để quan sát các mặt của bàng quang và niệu đạo. Đa số các trường hợp, có thể dùng chất gel gây tê tại chỗ để không gây khó chịu cho bệnh nhân. Ống nội soi sẽ đi xuyên qua niệu đạo và trong bàng quang, từ đó bác sĩ sẽ quan sát kỹ lưỡng. Quan sát toàn bộ bàng quang mất trên dưới 10 phút. Xét nghiệm cuối cùng là tế bào học nước tiểu, cho nước tiểu vào một ly nhỏ. Sau đó bác sĩ giải phẫu bệnh quan sát dưới kính hiển vi để tìm tế bào ung thư .

Tiểu máu được điều trị như thế nào ?

Xử trí tiểu máu tùy thuộc vào nguyên nhân gây ra. Nhiều lúc, nguyên nhân không thể tìm ra nhưng may mắn là những trường hợp này thường gợi ý không có hại lắm. Cần nhớ rằng tìm nguyên nhân thật sự của tiểu máu không phải để chứng minh bệnh đặc hiệu nhưng để giúp loại trừ những trường hợp nặng. Nếu tiểu máu mà không tìm được nguyên nhân, nên kiểm tra nước tiểu mỗi năm một lần nếu không có gì thay đổi cả. Tuy nhiên, nếu tiểu máu đại thể tái phát, thì có thể làm lại những xét nghiệm trên và bác sĩ nên kiểm tra kỹ. Xét nghiệm máu để đánh giá chức năng thận và kiểm tra huyết áp nên được thực hiện. Đàn ông trên 50 tuổi nên làm PSA mỗi năm một lần để sàn lọc ung thư tiền liệt tuyến.

Những bàn luận thêm về tiểu máu tùy thuộc vào diễn tiến và nguyên nhân chính xác của tiểu máu. Chuyên gia về niệu sẽ thực hiện những thăm khám trực tiếp và tiến hành điều trị thên hoặc theo dõi khi cần thiết.

Tóm lược về tiểu máu

Tiểu máu đôi khi chỉ được thấy dưới kính hiển vi.

Đánh giá đòi hỏi xem xét toàn bộ đường tiết niệu.

Xét nghiệm dùng để chẩn đoán tiểu máu bao gồm chụp thận- niệu quản cản quang bằng đường tĩnh mạch ( IVP ) nội soi bàng quang, và tế bào học nước tiểu.
(Theo BSGĐ)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Màu nước tiểu trở nên bất thường có thể do thay đổi lối sống. Nhưng nếu bạn thấy có máu trong nước tiểu thì hãy đi khám vì đó là dấu hiệu của bệnh, rất nghiêm trọng và có thể đe dọa tính mạng.

Nước tiểu bình thường có màu vàng rơm hoặc trong. Tiểu ra máu là hiện tượng có máu trong nước tiểu. Trên thực tế, bạn có thể thấy máu đỏ tươi trong nước tiểu; nhưng máu cũng có thể bị hòa tan, làm cho nước tiểu có màu hồng, màu gỉ sắt hoặc nâu.

Tiểu ra máu xuất hiện đột ngột và không kèm theo đau là dấu hiệu phổ biến nhất của ung thư bàng quang. Niệu huyết cũng có thể là dấu hiệu của ung thư thận hoặc ung thư tiền liệt tuyến ở nam giới, đặc biệt với những người trên 50 tuổi. Những dấu hiệu của ung thư tuyến tiền liệt thường thấy hơn ở đường tiết niệu, bao gồm dòng nước tiểu yếu hoặc ngắt quãng, tiểu tiện nhiều hoặc ít đi, cảm giác đau hoặc rát bỏng khi tiểu tiện. Tuy nhiên, hầu hết mọi bệnh nhân chỉ thấy có một vài triệu chứng nào đó. Để điều trị, có thể phải dùng phẫu thuật cắt bỏ tuyến, tia xạ hoặc điều trị bằng nội tiết.

Tiểu ra máu không phải bao giờ cũng do ung thư. Nếu kèm theo đau hoặc tiểu nhiều lần, có thể chỉ đơn giản là nhiễm trùng đường tiết niệu khởi nguồn từ thận hoặc từ bàng quang. Khi đó, bạn có thể dùng kháng sinh theo đơn của bác sĩ để điều trị nhiễm trùng. Nếu đau ở vùng xương mu, ở hai bên hố chậu hoặc vùng thắt lưng thì có thể bạn bị sỏi tiết niệu như ở bàng quang, niệu quản hoặc thận. Những sỏi nhỏ có thể tự đào thải; hoặc được bác sĩ lấy qua đường niệu đạo. Với những sỏi lớn hơn ở thận, có thể phải phẫu thuật để lấy sỏi hoặc tán sỏi ngoài cơ thể.

Tiểu ra máu cũng có thể do viêm thận mạn tính, xuất phát từ nguyên nhân nhiễm trùng đường tiết niệu không được điều trị, sỏi đường tiết niệu, do các chất độc hoặc dùng một số thuốc kéo dài. Viêm thận mạn tính có thể dẫn đến suy thận.

Màu nước tiểu bất thường không phải lúc nào cũng là dấu hiệu của bệnh nghiêm trọng. Một số thực phẩm có thể tạm thời khiến nước tiểu có màu hồng, màu nâu. Việc dùng một số thuốc Đông y như cây đại hoàng, lá cây muồng... có thể làm cho nước tiểu có màu vàng sẫm. Bất thường về màu của nước tiểu sẽ mất đi khi ngừng sử dụng các thuốc trên. Những hôm thời tiết nắng nóng, nước tiểu có thể bị cô đặc và có màu vàng sẫm. Đó cũng là dấu hiệu bạn cần phải uống thêm nhiều nước.
(Theo VNDOC 's Blog Sưu Tầm)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




1. Suy thận và các phương pháp lọc máu

Ngày nay, để điều trị suy thận mãn, người ta thường áp dụng lọc máu định kỳ với 2 phương pháp: Chạy thận nhân tạo và thẩm phân phúc mạc. Trong trường hợp suy thận cấp do nhiễm trùng thì người ta cũng áp dụng một trong hai cách này.

Chạy thận nhân tạo đơn giản nhưng đòi hỏi bệnh nhân phải vào bệnh viện, thẩm phân phúc mạc ít tốn kém và việc thực hiện nhanh hơn. Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu trên 2 nhóm bệnh nhân bị suy thận cấp do nhiễm trùng, một nhóm được chạy thận nhân tạo và nhóm kia được thẩm phân phúc mạc.

Kết quả nhóm bệnh nhân thẩm phân phúc mạc tử vong nhiều hơn (tỷ lệ tử vong là 47%), trong khi nhóm chạy thận nhân tạo có tỷ lệ tử vong chỉ là 5%. Ngoài ra, nhóm chạy thận nhân tạo ít tốn kém về tiền bạc, đỡ mất thời gian và creatinin máu cũng giảm được nhiều hơn.

Từ nghiên cứu này, các tác giả ở bệnh viện Churchill và Raddiffe (Anh) đã đưa ra khuyến cáo những trường hợp suy thận do nhiễm trùng nên chạy thận nhân tạo thay cho thẩm phân phúc mạc
(Theo Journal of Infection, SK&ĐS)

2. Chụp cộng hưởng từ giúp mổ u não triệt để

Ở các ca phẫu thuật cắt bỏ u não thông thường, các bác sĩ có thể bỏ sót một phần khối u. Nhưng với sự trợ giúp của kỹ thuật chụp cộng hưởng từ, họ có thể loại bỏ chúng hoàn toàn.

Trong thử nghiệm với 200 bệnh nhân u não, tiến sĩ Christopher Nimsky tại Đại học Erlangen-Nurnberg (Đức) và cộng sự nhận thấy trong các ca phẫu thuật có phối hợp chụp cộng hưởng từ, các bác sĩ phát hiện ra thêm nhiều mô bị ung thư cần được lấy ra khỏi não.

Với các ca phẫu thuật không có sự trợ giúp của phương pháp chụp cộng hưởng từ, các bác sĩ có thể bỏ sót một phần khối u. Việc này có thể dẫn đến nguy cơ bệnh nhân phải mổ lại hoặc phải tiếp tục điều trị sau khi được phẫu thuật.

"Chụp cộng hưởng từ làm tăng đáng kể độ chính xác của các ca phẫu thuật. Nó hiển thị những thông tin quý giá trong suốt quá trình phẫu thuật giúp cho các bác sĩ điều trị có cơ hội điều chỉnh phương pháp và thủ thuật của họ", Christopher Nimsky nói.
(theo Healthday)

3. Dùng tuỷ xương khôi phục tổn thương não

Một hướng đi mới trong điều trị tổn thương não ở trẻ sơ sinh: lấy tế bào gốc ở tuỷ xương thay thế cho tế bào chết trong não.

Tại festival khoa học Anh, các nhà khoa học tại Đại học Imperial (Anh) tuyên bố họ đã cấy ghép thành công tế bào gốc trong tuỷ xương của bào thai người vào não chuột sơ sinh.

Tế bào gốc ở bào thai có cấu trúc giống như tế bào gốc ở người lớn. Điểm khác biệt duy nhất là chúng được lấy từ thai nhi. Loại tế bào này có thể biến đổi thành tất cả các loại tế bào khác của cơ thể.

Tiến sĩ Huseiyn Mehmet, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết, ông hy vọng sẽ sử dụng được phương pháp này để thay thế các tế bào chết cho trẻ sơ sinh bị tổn thương não.

Có nhiều nguyên nhân gây ra tổn thương não ở trẻ sơ sinh, chẳng hạn trẻ bị dây rốn quấn cổ, làm thiếu máu cung cấp lên não. Một nghiên cứu cho thấy, những trẻ sinh trước 30 tuần có 80% nguy cơ mắc một số dạng tổn thương thần kinh. Khi các mô bị tổn thương, các tế bào xung quanh khu vực tổn thương dần dần chết đi theo một quy trình tự nhiên.

Nhóm nghiên cứu cho biết, tế bào gốc ở bào thai người có thể hoà nhập vào não bào thai chuột. Việc cấy ghép tế bào gốc ở bào thai người có thể kết hợp với liệu pháp làm lạnh để làm chậm lại quá trình chết đi của tế bào sau khi não bị tổn thương.
(theo BBC)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Bộ lọc của cơ thể bao gồm: thận (máy lọc), bàng quang (bể chứa) và niệu quản, niệu đạo (những ống dẫn). Lao có thể làm thận teo nhỏ, mất chức năng lọc, thậm chí trở thành một túi mủ; bàng quang méo mó thu nhỏ lại, các ống dẫn trở nên dày, cứng, hẹp và tắc.

Tổn thương lao ở hệ tiết niệu có thể riêng biệt từng phần nhưng cũng có thể xuất hiện ở toàn bộ hệ thống; bắt đầu từ lao thận, vi khuẩn lao đi xuôi dòng nước tiểu gây tổn thương các phần khác. Tuy nhiên, vi khuẩn lao cũng có thể đến từ bộ phận khác bằng đường máu hay bạch huyết. Khi bị bệnh, tổn thương lao có thể thấy ở hầu hết các phần của bộ lọc là: thâm nhiễm, loét, hang, nốt u, sùi, xơ hóa.

Người bệnh bị lao tiết niệu có các triệu chứng sau:

Lao thận: Đau ngang lưng hoặc đau vùng hố thận, đái ra máu, ra mủ.

Lao bàng quang: Chiếm tới 60-70% lao tiết niệu, biểu hiện là đái rắt, đái buốt, đái nhiều về đêm. Nước tiểu có máu hoặc mủ.

Lao niệu quản: Thường là ở giai đoạn muộn, niệu quản nơi tổn thương hẹp lại làm gián đoạn ở trên và ứ nước tiểu gây đau. Nhiều khi có cơn đau quặn thận dễ nhầm với sỏi. Lao niệu quản ít gặp nhưng có thể gây triệu chứng khó đái và không đái được khi niệu quản hẹp, nên dễ nhầm lẫn với bệnh lậu mạn tính và bệnh ở tuyến tiền liệt.

Để chẩn đoán lao tiết niệu, việc đầu tiên cần làm là tìm vi khuẩn lao trong nước tiểu. Nhưng không phải ca bệnh nào cũng tìm thấy khuẩn lao. Nhiều trường hợp lúc đầu bác sĩ không nghĩ ngay đến bệnh lao nên thường bắt đầu từ siêu âm xem thận có to không, niệu quản có hẹp không, niêm mạc bàng quang có dày không; sau đó là chụp bộ lọc có cản quang, thậm chí chụp cắt lớp bằng máy điện toán.

Lao tiết niệu có thể nhầm lẫn với viêm đường tiết niệu. Nếu viêm bàng quang lâu ngày, điều trị bằng các kháng sinh không đỡ nên nghĩ đến lao. Bệnh có thể nhầm lẫn với viêm cầu thận, sỏi, bệnh ký sinh trùng (sán máng)...

Việc dùng thuốc chống lao đúng nguyên tắc theo đường toàn thân có thể bảo đảm chữa khỏi các tổn thương loét, nốt, hang ở hệ tiết niệu. Nhưng khi tổn thương đã xơ sẹo, làm tắc đường dẫn hay khi thận chỉ còn là một ổ mủ thì phải xem xét việc phẫu thuật.
(Theo tuoitre)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Sỏi thận là những tinh thể của muối và kim loại tích tụ lại trong thận. Chúng thường gây đau đớn dữ dội. Một người từng bị bệnh này đã phát biểu: "Tôi thường nghĩ trên đời không có gì là tôi không chịu được. Tôi từng chịu cho nha sĩ khoan vào răng mà không cần chích thuốc tê. Nhưng khi bệnh sỏi thận đến với tôi... tôi đã phát khóc lên". Câu nói này đủ cho bạn cảm giác được phần nào nỗi đau đớn mà căn bệnh gây ra.

Với sự tiến bộ của y học ngày nay, các bác sĩ chắc chắn có nhiều phương pháp để làm cho viên sỏi trong thận của bạn tan đi trong thời gian vài tháng (và bạn sẽ phải hết sức kiên nhẫn chịu đựng nỗi đau khổ do viên sỏi gây ra trong vài tháng ngắn ngủi này).

Điều mà các bác sĩ không chắc chắn là sau khi một viên sỏi tan đi, viên sỏi mới có thể xuất hiện nữa hay không. Nếu bạn từng bị một viên sỏi (và đã được chữa trị), xác suất bị thêm viên nữa sẽ rất cao. Và nếu bạn đã từng bị hai viên sỏi, xác suất bị thêm nhiều viên khác lại còn cao hơn nữa.

Chuyện này tương đối dễ hiểu, vì các thói quen (như ăn uống chẳng hạn) trong đời sống thường ngày của bạn đóng vai trò chính yếu trong việc sản xuất những viên sỏi này. Nếu chỉ chữa trị làm tan viên sỏi mà không sửa lại các thói quen xấu đó, hầu như chắc chắn bạn sẽ bị thêm viên nữa... và nhiều viên nữa.

Sỏi thận có nhiều loại, chỉ bác sĩ chuyên khoa mới có thể phân biệt được chúng, và từ đó chỉ cho bạn các phương pháp để ngăn ngừa. Dù sao, những phương pháp sau đây sẽ giúp bạn không ít trong việc ngăn ngừa sự thành hình của những viên sỏi thận.

Hãy uống nhiều nước

Không cần biết viên sỏi có thể bị thuộc loại gì, biện pháp hay nhất để ngăn ngừa nó là hãy uống nhiều nước. Lượng nước nhiều trong cơ thể sẽ làm giảm nồng độ của các muối khoáng trong nước tiểu và từ đó giảm nguy cơ kết thành tinh thể (sỏi) của các muối khoáng này.

Uống nhiều là bao nhiêu? Đủ để bạn có thể đi tiểu ra được 2 lít một ngày. Các bác sĩ chuyên khoa về thận thường khuyên như vậy. Bạn có thể đi tiểu vào một bình sữa bằng nhựa để đo tổng số nước tiểu trong một ngày.

Đừng ăn thực phẩm có chất oxilate

Oxilate là một gốc axit có khuynh hướng tác dụng với các kim loại như canxi và tạo ra sỏi thận. Theo các nghiên cứu, đa số các viên sỏi thận là sự kết hợp của oxilate và canxi. Thông thường, chất này sau khi vào cơ thể sẽ được thải ra ngoài; nó chỉ không được loại bỏ nếu hệ thống bài tiết oxilate của bạn có trục trặc. Khi đó, nó sẽ tác dụng với canxi và tạo nên sỏi thận.

Trong trường hợp này, bạn nên hạn chế tiêu thụ rau cải hoặc trái cây chứa oxilate như bầu, bí, các loại đậu, cần, ngò, ớt xanh, rau dền, nho, chocolate, trà, các loại berries như blueberries, strawberries... Riêng nước trái cranberries lại được người ta dùng để ngừa bệnh sỏi thận. Tác dụng ngăn ngừa này không có lý luận y học nào khả dĩ chứng minh được, người ta chỉ dựa vào kinh nghiệm của các bác sĩ mà đưa ra giả thuyết này thôi.

Cẩn thận với canxi

Theo các thống kê tại một số đại học y khoa, trên 90% các viên sỏi thận đều được hình thành từ canxi và các hợp chất của nó.

Điều này không có nghĩa là bạn phải tránh ăn uống những thực phẩm có canxi (như sữa, bơ, phó mát) vì chất này có ích cho xương của bạn (bạn có thể bị chứng khòm lưng hay rút người lại trong tuổi già nếu thiếu canxi).

Cơ thể bạn thà hay thiếu canxi? Điều này thật khó biết. Chỉ biết rằng khi bạn đã lỡ bị một viên sỏi và bác sĩ cho biết đây là sỏi canxi thì bạn cần giảm mức độ tiêu thụ chất này để tránh việc hình thành một viên sỏi khác.

Ngoài sữa và những thực phẩm được chế từ sữa, bạn còn nên cẩn thận khi dùng thuốc trị bệnh dạ dày hoặc bệnh đầy hơi (gọi chung là thuốc antacid). Nhiều thuốc loại này chứa rất nhiều canxi. Nên đọc kỹ thành phần cấu tạo trên nhãn hiệu trước khi mua.

Ghi chú: Các thuốc antacid thường chứa 1 hoặc 2 trong 3 chất là canxi, aluminum và magiê. Canxi thường làm tích tụ thêm chất vôi trong thận, trong khi magiê lại có khuynh hướng làm giảm đi. Cả hai chất đều là kim loại, dễ tác dụng với oxilate để tạo ra chất kết tủa. Nhưng cái khác nhau là chất kết tủa của canxi lâu ngày sẽ đóng thành tinh thể tạo ra sỏi thận; còn chất kết tủa của magiê có công dụng giống như cảnh sát, tìm bắt kẻ xấu là oxilate và đuổi chúng ra ngoài cơ thể.

Ảnh hưởng của các sinh tố

Có 2 loại sinh tố rất hữu ích cho bệnh sỏi thận là sinh tố B6 và sinh tố A. Sinh tố B6 nếu uống chừng 10 mg mỗi ngày sẽ có khả năng làm giảm lượng oxilate trong nước tiểu.

Sinh tố A có tác dụng giữ cho hệ thống bài tiết nước tiểu được điều hòa để chống lại sự thành hình của sỏi thận. Lượng sinh tố A cần thiết cho cơ thể (RDA) là 5.000 IU mỗi ngày. Bạn có thể uống thuốc viên bán tại các tiệm thuốc tây, hoặc ăn nhiều súp lơ xanh, gan bò và những trái cây hoặc rau cải có màu cam như cà rốt, bí đỏ, apricot...

Nếu các sinh tố A và B6 có ích cho bệnh nhân sỏi thận thì sinh tố D và C lại có hại. Nếu bạn từng bị bệnh thận, nên tránh tiêu thụ quá 400 IU sinh tố D trong một ngày. Sinh tố C tuy ít gây hại nhưng cũng đừng nên uống quá 3 g mỗi ngày vì nó có ảnh hưởng không tốt cho bệnh sỏi thận.

Hạn chế ăn muối

Cố hạn chế lượng muối ăn vào không quá 3 g mỗi ngày. Muối cũng có nhiều trong các loại dưa muối, kim chi và phó mát. Khi ăn các đồ hộp hoặc các loại "chip", nhớ xem kỹ lượng muối kê khai trong bản thành phần cấu tạo trên nhãn hiệu.

Đừng nằm rồi ngồi suốt ngày

Sự hoạt động và thể dục nhẹ có tác dụng thu thập lượng canxi trong máu và nước tiểu để tích tụ về xương. Bạn rất cần canxi để giữ cho xương cứng cáp nhưng lại rất kỵ việc có chất này ở trong nước tiểu. Nếu bạn làm việc văn phòng và lại thích xem ti vi, đọc sách suốt thời gian không phải làm việc, hãy bỏ thói quen đó. Nên dành dành vài mươi phút mỗi ngày để tập thể dục nhẹ như đi tản bộ, cỡi xe đạp...

Tránh ăn nhiều chất protein

Protein có nhiều ở tất cả các loại thịt động vật như lợn, bò, gà, vịt. Ngay cả cá, tôm, cua, sò ốc, bơ sữa, đậu nành cũng giàu protein.

Bác sĩ Brian thuộc Đại học New York (Mỹ) sau nhiều cuộc nghiên cứu đã cho biết: Giữa việc ăn nhiều protein và bệnh sỏi thận có một mối liên hệ hết sức mật thiết. Các thí nghiệm cho thấy, việc ăn nhiều protein có khuynh hướng làm gia tăng lượng axit, canxi và phốt pho trong nước tiểu. Những chất này dễ tạo ra chứng sỏi thận.

Tuy nhiên, cũng đừng nghĩ là bạn phải ăn chay trường. Mỗi ngày bạn vẫn có thể ăn tối đa chừng 200 g thịt, cá. Nhớ là đừng bao giờ vượt quá con số này nếu bạn đã từng bị sỏi thận.

Mẹo vặt:

Mỗi ngày uống khoảng 20-30 mg sinh tố B6 cùng với chừng 500 đến 600 mg chất magiê (bán chung với các sinh tố tại tiệm thuốc tây). Phương pháp này đã giúp rất nhiều người tự chữa khỏi bệnh sỏi thận của mình.

(CNMVYK-Nhà xuất bản Đồng Nai ấn hành năm 1998)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]






-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Xoắn thừng tinh ở đàn ông và xoắn u nang buồng trứng ở nữ giới đều có thể gây nguy hiểm cho người bệnh, làm mất khả năng có con.

Xoắn của nam

Xoắn thừng tinh còn gọi là xoắn cuống tinh hoàn, hay nôm na là xoắn tinh hoàn. Theo bác sĩ Nguyễn Thành Như, Trưởng đơn vị Nam khoa Bệnh viện Bình Dân TP HCM, bệnh xảy ra nhiều nhất ở độ tuổi dậy thì. Trên 20 tuổi thường ít gặp, lớn tuổi cũng có thể bị, nhưng hiếm khi.

Dấu hiệu của xoắn cuống tinh hoàn là xuất hiện cơn đau dữ dội một bên tinh hoàn, có thể kèm theo nôn ói, nhưng không sốt. Tinh hoàn xoắn xoay ngang hẳn một bên...

Bình thường, tinh hoàn được cố định bên trong bìu, nhưng ở những trường hợp bị xoắn, nó không cố định chắc chắn mà lỏng lẻo. Cuống tinh hoàn của người đó dài lủng lẳng nên dễ dẫn đến xoắn. Cũng có những trường hợp tinh hoàn bị xoắn từ lúc còn trong bào thai, khiến một bên bị teo và tiêu biến luôn (do máu không đến nuôi được). Có trẻ mới sinh ra chỉ có một bên tinh hoàn là vì thế.

Xoắn ở nữ

Theo bác sĩ Đặng Lê Dung Hạnh, Phó phòng Kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Hùng Vương TP HCM), bình thường buồng trứng ít khi bị xoắn. Tình trạng này thường xảy ra ở buồng trứng bị u nang. Cũng có khi xảy ra xoắn vòi trứng do bị ứ dịch, làm vòi trứng phồng to, nặng, dẫn đến xoắn.

Xoắn có thể xảy ra cả ở trường hợp u lành lẫn u ác, thường gặp ở phụ nữ trẻ. Buồng trứng có khối u nặng, trong bụng còn một khoảng không gian nên tình trạng xoắn xảy ra. Đây là một tai biến cần xử lý hết sức khẩn cấp.

Triệu chứng điển hình nhất là đau bụng từng cơn ở vùng bụng dưới. Thời gian giữa những cơn đau càng về sau ngắn lại, ban đầu là 10 phút, rồi 5 phút... và đau càng dữ dội. Lúc đầu đau có thể bỏ qua, hay uống thuốc giảm đau thì hết, nhưng sau đó nó tiếp tục tái diễn, kèm nôn ói. Bệnh nhân không thể chịu nổi buộc phải nhập viện cấp cứu.

Xử lý xoắn thế nào?

Cả hai chứng bệnh trên đều là tình huống khẩn, cần xử lý cấp cứu ngay. Ở nữ, 10-15 phút sau là phải mổ cấp cứu, nếu không sẽ dẫn đến vỡ buồng trứng. Với xoắn cuống tinh hoàn ở nam, sau 4-6 giờ tinh hoàn sẽ bị hoại tử nếu không được xử trí.

Ở xoắn cuống tinh hoàn, trước khi phẫu thuật, bác sĩ sẽ phải tháo xoắn trước bằng cách một tay giữ cố định ở phần cuống, tay kia xoay tinh hoàn một vòng 360 độ. Khi mổ ra, nếu thấy tinh hoàn tím đen, chờ 15-20 phút mà nó không hồng trở lại thì phải cắt bỏ.

Còn với xoắn u nang buồng trứng, theo bác sĩ Dung Hạnh, một khi đã xoắn rồi thì hiếm khi trở về bình thường. Xoắn ngăn cản đường lưu thông của máu, khiến buồng trứng ngày càng sưng to, nếu không phẫu thuật cấp cứu kịp thời thì dịch sẽ tích tụ nhiều quá làm nứt vỡ buồng trứng, gây nhiễm trùng, nhiễm độc, viêm phúc mạc, mất máu cấp và có thể tử vong.
(Theo Thanh Niên)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Lối sống thiếu vận động thường xuyên, cộng với chế độ ăn uống không lành mạnh chính là nguyên nhân dẫn đến bệnh sỏi thận.

Chế độ ăn uống không lành mạnh là ăn quá nhiều chất bột, thịt, tiêu thụ nhiều thực phẩm giàu chất kiềm, gia vị cay nóng. Ăn mặn cũng là một trong những con đường hình thành sỏi nhanh nhất.

Phương cách giúp ngừa sỏi thận là năng vận động, uống nhiều nước (từ 8-15 ly/ngày) và không ăn quá 6g muối mỗi ngày. Nên bổ sung thêm trái cây, rau quả tươi, sữa chua đã gạn kem trong các bữa ăn hằng ngày.
(Theo Thanh Niên /Indiatimes)

Chuối hột chữa sỏi thận

Quả chuối hột (còn gọi là chuối chát) thường được dân gian dùng chữa bệnh sỏi thận bằng cách dùng hạt nấu nước uống trong vài tháng. Ngoài ra, nó cũng có tác dụng chữa một số bệnh khác như cảm sốt, táo bón, hắc lào.

Chuối hột mọc hoang và được trồng nhiều, tỉnh nào cũng có. Quả chuối hột lành, khi chín ăn ngọt, nhưng có nhiều hột. Để chữa sỏi thận, dân gian chọn chuối thật chín, lấy hạt phơi khô, tán nhỏ nấu lấy nước uống. Cho 7 thìa nhỏ (thìa cà phê) bột hạt chuối vào 2 lít nước đun nhỏ lửa, khi còn 2/3 nước là được. Uống hằng ngày như nước trà liền trong 2-3 tháng, cho kết quả khá tốt.

Cũng có thể lấy quả chuối hột đem thái mỏng, sao vàng, hạ thổ 7 ngày; mỗi ngày lấy một vốc tay (chừng một quả) sắc với 3-4 bát nước, uống vào lúc no.

Chuối hột còn được dùng trong các trường hợp sau:

Chữa bệnh tiểu đường: Đào lấy củ cây chuối hột, rửa sạch, giã nát ép lấy nước uống, dùng thường xuyên và lâu dài để ổn định đường huyết. Vì củ chuối không nhiều và việc đào củ phức tạp nên có thầy thuốc cải tiến cách làm và cũng thu được hết quả tốt: Chọn cây chuối hột có bắp đang nhú, cắt ngang cây (cách mặt đất 20-25 cm) và khoét một lỗ rỗng to ở thân chuối, để một đêm, sáng hôm sau múc nước từ lỗ rỗng (do gốc thân cây chuối tiết ra) mà uống. Dùng thường xuyên sẽ ổn định được đường huyết.

Chữa cảm nóng sốt cao phát cuồng: Đào lấy củ chuối hột, rửa sạch, giã nát, vắt lấy một bát nước cho người bệnh uống, sẽ giảm sốt và không nói mê.

Chữa hắc lào: Lấy một quả chuối hột còn xanh tươi nhiều nhựa, cắt đôi, cầm xát trực tiếp vào nơi hắc lào, bệnh đỡ nhanh, dùng liên tục 7-8 ngày là khỏi.

Trẻ em táo bón: Lấy 1-2 quả chuối chín đem vùi vào bếp lửa, khi vỏ quả ngả màu đen, ruột chín nhũn thì lấy ra để nguội, cho trẻ ăn, khoảng mươi phút sau là đi đại tiện được.

Ngoài ra, lá và vỏ quả chuối khô còn được sắc uống làm thuốc lợi tiểu và chữa được chứng phù thũng; nước sắc quả chuối hột chữa đái rắt. Rễ cây chuối hột sắc uống chữa cảm mạo.
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Một cốc nước cam mỗi ngày giúp ngăn ngừa sự tái phát bệnh sỏi thận tốt hơn các loại nước cùng họ khác như chanh - khám phá của các nhà nghiên cứu trung tâm y tế Tây Nam UT (Mỹ).

Những phát hiện này chỉ ra rằng mặc dù nhiều người cho rằng tất cả các loại nước hoa quả họ cam quýt đều giúp chống sỏi thận, tuy nhiên không phải tất cả đều cho hiệu quả như nhau.

Việc kiểm soát về mặt y học sự tái phát bệnh sỏi thận đòi hỏi chế độ ăn kiêng và những thay đổi về thói quen sống cũng như điều trị như việc thêm vào cơ thể muối Kali citrate, chất đã được chứng minh có thể giảm tỷ lệ hình thành sỏi thận mới ở bệnh nhân sỏi thận. Nhưng nhiều bệnh nhân lại không dung nạp Kali citrate bởi nó có tác dụng phụ tới dạ dày-ruột, theo lời của TS Clarita Odvina, Giáo sư cộng tác của khoa Nội, trung tâm Charles và Jane cho nghiên cứu lâm sàng và chuyển hóa Khoáng và cũng là người đứng đầu nghiên cứu này. Trong những trường hợp như thế, việc bổ sung chất citrate (có trong nước cam) có thể được xem như một loại “thuốc”.

"Nước cam trong tương lai có thể đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát bệnh sỏi thận và có thể được coi là một lựa chọn cho các bệnh nhân không dung nạp chất kali citrate", TS Odvina cho biết.

Tất cả nước ép từ họ cam quýt đều chứa chất citrate, tuy nhiên một vấn đề không mấy dễ chịu chính là axit citric làm nên vị chua của các loại quả này. Các nhà nghiên cứu đã so sánh nước cam với nước chanh và đã tìm ra rằng các thành phần đi kèm với citrate (ion kali hay ion Hydro) có thể có hiệu quả trong việc giảm nguy cơ hình thành sỏi thận mới.

Sỏi thận phát triển khi nước tiểu quá đặc, gây ra các khoáng và hóa chất khác trong nước tiểu kết nối với nhau. Qua thời gian, những tinh thể này liên kết với nhau và phát triển thành sỏi.
13 người tình nguyện (có tiền sử sỏi thận và không) được chia thành 3 nhóm: nhóm chỉ uống nước cất; một nhóm uống nước cam và một nhóm uống nước chanh với liều lượng là 400g/3 lần/ngày trong các bữa ăn. Họ cũng phải duy trì một chế độ ăn kiêng ít calci và oxalate. Mẫu nước tiểu và máu được lấy vào khoảng thời gian nghỉ trong mỗi nhóm.
(Theo Dân trí)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]



-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Ngày nay, để điều trị suy thận mãn, người ta thường áp dụng lọc máu định kỳ với 2 phương pháp: Chạy thận nhân tạo và thẩm phân phúc mạc. Trong trường hợp suy thận cấp do nhiễm trùng thì người ta cũng áp dụng một trong hai cách này.

Chạy thận nhân tạo đơn giản nhưng đòi hỏi bệnh nhân phải vào bệnh viện, thẩm phân phúc mạc ít tốn kém và việc thực hiện nhanh hơn. Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu trên 2 nhóm bệnh nhân bị suy thận cấp do nhiễm trùng, một nhóm được chạy thận nhân tạo và nhóm kia được thẩm phân phúc mạc.

Kết quả nhóm bệnh nhân thẩm phân phúc mạc tử vong nhiều hơn (tỷ lệ tử vong là 47%), trong khi nhóm chạy thận nhân tạo có tỷ lệ tử vong chỉ là 5%. Ngoài ra, nhóm chạy thận nhân tạo ít tốn kém về tiền bạc, đỡ mất thời gian và creatinin máu cũng giảm được nhiều hơn.

Từ nghiên cứu này, các tác giả ở bệnh viện Churchill và Raddiffe (Anh) đã đưa ra khuyến cáo những trường hợp suy thận do nhiễm trùng nên chạy thận nhân tạo thay cho thẩm phân phúc mạc
(Theo Journal of Infection, SK&ĐS)


-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]



-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]






-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]






-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Ðường tiết niệu là gì?

Ðường tiết niệu là hệ thống bao gồm thận, niệu quản, bàng quang và niệu đạo. Trong đó, đóng vai trò then chốt là 2 quả thận, đó là 2 cơ quan màu nâu hơi đỏ nằm bên dưới các xương sườn hướng vào giữa lưng. Thận lọc máu để thải các chất không cần thiết dưới dạng nước tiểu, duy trì ổn định sự cân bằng giữa muối và các chất khác trong máu đồng thời tạo ra một hormone hỗ trợ cho sự tạo thành hồng cầu. Niệu quản là những ống hẹp dẫn nước tiểu từ thận đến bàng quang - một khoang hình tam giác ở hố chậu. Nước tiểu được chứa trong bàng quang và đưa ra ngoài qua niệu đạo.

Trung bình một người lớn thải khoảng 1,5l nước tiểu một ngày. Lượng nước tiểu thay đổi phụ thuộc vào lượng nước và thức ăn một người tiêu thụ. Thể tích nước tiểu tạo thành vào ban đêm bằng một nửa vào ban ngày.

Tác hại của nhiễm trùng đường niệu

Nhiễm trùng đường niệu là một vấn đề sức khỏe quan trọng ảnh hưởng đến hàng triệu người mỗi năm.

Sự nhiễm trùng đường niệu khá phổ biến chỉ đứng sau nhiễm trùng đường hô hấp. Hàng năm, nhiễm trùng đường niệu là nguyên nhân thăm khám của khoảng 8 triệu bác sĩ.

Ðặc biệt, phụ nữ dễ bị nhiễm trùng đường niệu hơn do những lí do vẫn chưa được biết rõ. Cứ 5 phụ nữ thì có một người bị nhiễm trùng đường niệu trong suốt thời gian sống.

Các nguyên nhân gây nhiễm trùng đường niệu

Nước tiểu bình thường vô trùng. Nó chứa dịch, muối và các chất thải nhưng nó không chứa vi khuẩn, virus và nấm. Nhiễm trùng xảy ra khi vi sinh vật, thường là vi khuẩn từ đường tiêu hóa, bám vào lỗ mở của niệu đạo và bắt đầu nhân lên. Hầu hết các nhiễm trùng đều khởi phát từ 1 loại vi khuẩn là Escherichia coli (E. coli) bình thường sống trong trực tràng.

Trong hầu hết trường hợp, vi khuẩn bắt đầu nhân lên đầu tiên trong niệu đạo. Nhiễm trùng chỉ giới hạn ở niệu đạo gọi là nhiễm trùng niệu đạo. Từ đây, vi khuẩn thường xâm nhập vào bàng quang gây nhiễm trùng bàng quang ( viêm bàng quang). Nếu không được điều trị ngay, vi khuẩn có thể lên niệu quản gây nhiễm trùng thận (viêm đài bể thận).

Các vi khuẩn Chlamydia và Mycoplasma cũng có thể gây nhiễm trùng niệu ở cả nam và nữ giới nhưng chúng có khuynh hướng tự giới hạn ở niệu đạo và hệ sinh dục. Không giống E. coli, Chlamydia và Mycoplasma có thể lây nhiễm qua giao hợp do đó đòi hỏi điều trị đồng thời cả 2 người.

Hệ thống tiết niệu có cấu trúc giúp ngăn ngừa nhiễm trùng. Niệu quản và bàng quang thường ngăn không cho nước tiểu chảy ngược về thận và dòng nước tiểu từ bàng quang sẽ làm trôi vi khuẩn ra khỏi cơ thể. Ở nam giới, tuyến tiền liệt tạo ra các chất tiết làm chậm sự phát triển của vi khuẩn. Ngoài ra, ở cả 2 giới, hàng rào miễn dịch cũng giúp ngăn chặn nhiễm trùng. Tuy vậy, nhiễm trùng vẫn có thể xảy ra bất kể những sự bảo vệ trên.

Những đối tượng nguy cơ

Một số người dễ bị nhiễm trùng đường niệu hơn những người khác. Bất cứ một khuyết tật nào của đường tiết niệu ngăn cản dòng chảy của nước tiểu ( ví dụ sỏi thận) cũng có thể gây nhiễm trùng. Tuyến tiền liệt lớn có thể làm chậm dòng chảy của nước tiểu do đó cũng làm tăng nguy cơ nhiễm trùng.

Nguồn nhiễm trùng thông thường là ống thông tiểu hoặc những ống được đặt vào bàng quang. Những người không có khả năng tiểu tiện do bất tỉnh hoặc bệnh nặng thường được đặt ống thông tiểu trong một thời gian dài. Một số người, đặc biệt là người già hoặc những người bị rối loạn thần kinh nặng mất khả năng điều khiển quá trình tiểu tiện có thể cần ống thông tiểu suốt đời. Vi khuẩn trong ống thông tiểu có thể gây nhiễm trùng bàng quang, do đó nhân viên bệnh viện phải đặc biệt quan tâm giữ cho ống thông tiểu vô trùng và rút ra càng sớm càng tốt.

Những người bị tiểu đường có nguy cơ nhiễm trùng niệu cao hơn bởi những thay đổi của hệ thống miễn dịch. Bất kỳ rối loạn nào gây suy giảm hệ thống miễn dịch cũng sẽ làm gia tăng nguy cơ nhiễm trùng đường niệu.

Nhiễm trùng đường niệu có thể xảy ra ở trẻ em bị khuyết tật bẩm sinh ở đường tiết niệu, những khuyết tật này đôi khi phải cần đến sự can thiệp của phẫu thuật. Nhiễm trùng niệu hiếm khi xảy ra ở trẻ em nam và nam thanh niên. Ở phụ nữ, tỉ lệ nhiễm trùng niệu thường gia tăng theo tuổi.

Các nhà nghiên cứu vẫn chưa giải thích chắc chắn vì sao phụ nữ dễ nhiễm trùng niệu hơn nam giới. Một lý do có thể là niệu đạo của nữ ngắn hơn nên vi khuẩn dễ xâm nhập vào bàng quang hơn. Bên cạnh đó, lỗ mở niệu đạo ở phụ nữ cũng gần nguồn vi khuẩn từ hậu môn và âm đạo hơn. Với rất nhiều phụ nữ, sự giao hợp có vẻ như khởi đầu cho sự nhiễm trùng mặc dù nguyên nhân của mối liên hệ này vẫn chưa được biết rõ.

Theo nhiều tài liệu, những phụ nữ dùng màng tránh thai dễ nhiễm trùng niệu hơn dùng các phương pháp tránh thai khác. Gần đây, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng nếu người đàn ông dùng bao cao su chứa bột diệt tinh trùng khi giao hợp thì người phụ nữ có khuynh hướng gia tăng sự phát triển của E. coli trong âm đạo.

Các vấn đề về sự tái nhiễm.

Nhiều phụ nữ bị nhiễm trùng đường tiểu thường xuyên. Gần 20% phụ nữ nhiễm trùng đường niệu bị tái nhiễm 1 lần nữa, và 30% những phụ nữ này sẽ lại bị lần tiếp theo, trong số đó 80% sẽ tiếp tục tái nhiễm nhiều lần sau nữa.

Thông thường lần nhiễm trùng sau gây ra bởi một dòng hoặc một loại vi khuẩn khác với lần nhiễm trùng trước đó, điều này có nghĩa là những lần nhiễm trùng hoàn toàn riêng rẽ với nhau. (Ngay cả khi rất nhiều nhiễm trùng có nguyên nhân từ E. coli nhưng vẫn có sự khác biệt nhỏ giữa những vi khuẩn này cho thấy sự nhiễm trùng riêng biệt).

Các nghiên cứu của Viện Sức Khoẻ Quốc Gia Mỹ (NIH) đưa ra một nguyên nhân gây tái nhiễm trùng đường niệu có thể là do khả năng tấn công các tế bào biểu mô đường niệu của vi khuẩn. Một tài liệu gần đây của NIH cũng cho thấy những phụ nữ bị tái nhiễm có thể có cùng một nhóm máu nào đó. Một số nhà khoa học xem xét rằng những phụ nữ có các nhóm máu này dễ bị nhiễm trùng đường niệu vì tế bào biểu mô âm đạo và niệu đạo cho phép vi khuẩn tấn công dễ dàng hơn. Các nghiên cứu trong tương lai sẽ tiếp tục nghiên cứu đưa ra bản chất mối liên hệ này cùng phương pháp nhận biết những phụ nữ có nguy cơ nhiễm trùng đường niệu cao.
(Theo BSGĐ)

-->đọc tiếp...

/
Chào các bạn, bạn đã vào trang Benhtimmach.com chưa, đây là trang tư vấn sức khoẻ miễn phí chuyên sâu về lĩnh vực tim mạch click here