Chào các bạn, mời bạn quảng cáo banner tại đây kích thước 500x70 - giá mềm 700.000/tháng. liên hệ suckhoegd@gmail.com. Mr.Cường



| 0 tin nhắn ]




Chụp CT đa mặt cắt bằng máy MSCT-16 tại Trung tâm y khoa Medic. Bác sĩ Phan Thanh Hải - giám đốc Medic - cho biết giá mỗi lần chụp từ 500.000-2 triệu đồng - Ảnh: N.C.T.

Cuối năm người ta lại tổng kết những thành tựu y khoa trong năm. Hàng loạt sản phẩm, máy móc, xét nghiệm mới, phương pháp điều trị mới ra đời. Thế nhưng những tiến bộ này thường phù hợp với người giàu vì giá thành cao. 

Thật vậy, trong lĩnh vực xét nghiệm, các máy móc hiện đại giúp cho ra những kết quả xét nghiệm chính xác và mau chóng, người ta có thể thử hàng loạt các chất trong cơ thể để chẩn đoán bệnh. 

Trong lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh, các máy chụp CT scan, MRI ngày càng tân tiến cho ra các hình ảnh như thể người bác sĩ đang sờ nắm, nhìn ngó một cách rõ ràng các bộ phận của con người, giúp chẩn đoán các bệnh được chính xác hơn. Nhưng ai cũng biết rõ ràng giá của các xét nghiệm này cao ngất ngưởng so với thu nhập của người nghèo, không chỉ tại VN mà tất cả các nước trên thế giới. 

Khi đi khám bệnh, bệnh nhân thường được tư vấn làm xét nghiệm này hay xét nghiệm khác, hay đôi khi chính bệnh nhân "yêu cầu" được chụp cái này hay cái kia để biết. Và dĩ nhiên là sau một cuộc khám bệnh, thường chi phí sẽ lên đến hàng triệu đồng chưa kể tiền thuốc. 

Điều đáng quan ngại là sau khi có kết quả bình thường, người đi khám bệnh sẽ in trong đầu rằng họ bình thường mà không biết rằng kết quả chỉ có giá trị trong khoảng thời gian tương đối chứ không vĩnh viễn.

Vậy thì vai trò của người bác sĩ lâm sàng, trái với nhiều người nghĩ, là hết sức quan trọng trong việc giúp bệnh nhân chọn lựa đúng xét nghiệm cần làm trong một rừng xét nghiệm hiện đại. Một bác sĩ lâm sàng giỏi sẽ hết sức lắng nghe câu chuyện bệnh của bệnh nhân, bằng kỹ năng khám bệnh của mình họ sẽ cố gắng tìm ra những dấu hiệu của một cơn bệnh nào đó đang tiềm ẩn trong cơ thể bệnh nhân. 

Sau khi đã chắc mình đoán đúng bệnh, bác sĩ sẽ chỉ định đúng xét nghiệm cần làm để nhằm chứng minh một cách chính xác bệnh. Trong trường hợp này, xét nghiệm dù mắc nhưng lại trở nên rẻ vì cho phép chẩn đoán chính xác bệnh sớm và người thầy thuốc sẽ có ngay trong tay phương án tối ưu để điều trị, tránh tình trạng điều trị dây dưa vừa tốn tiền vừa mất thời gian và nhất là làm suy sụp tinh thần của người bệnh.

Nhưng nếu người bác sĩ lâm sàng non tay nghề? Hầu hết các bệnh đều có chung một vài triệu chứng nào đó. Một khi không thể xác định được bệnh, bác sĩ sẽ có xu hướng cho bệnh nhân đi làm xét nghiệm bao vây. Nghĩa là làm thật nhiều xét nghiệm để hi vọng có được chẩn đoán. Khi đó bệnh nhân sẽ phải gánh chịu một chi phí rất lớn. Phân tích như trên để thấy một điều tưởng như mâu thuẫn nhưng lại đầy lý lẽ rằng khoa học càng tiến bộ, bệnh nhân càng vui mừng, nhưng có thật nhiều bác sĩ giỏi, người nghèo càng hạnh phúc hơn.

Một câu hỏi khác đặt ra là làm sao những người nghèo có thể tiếp cận các tiến bộ y khoa? Tự bản thân người bệnh là không thể, nhà nước cũng không thể bao cấp hết được, mong nhờ vào sự giúp đỡ của các tổ chức từ thiện là hết sức mong manh. Chỉ có một cách là nhiều người giúp một người thông qua các loại hình bảo hiểm y tế như cả thế giới đang làm.

(VNDOC 's Blog - Theo báo Tuổi Trẻ)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Xạ trị là dùng tia có mức năng lượng cao để tiêu diệt các tế bào ung thư làm cho chúng ngừng tăng trưởng và phân chia. Các chuyên gia gọi phương pháp này là xạ trị ung thư.

Có mấy loại xạ trị ?

Giống như phẩu thuật, xạ trị là phương pháp điều trị tại chỗ, chỉ tác động trực tiếp lên tế bào ung thư ngay tại vùng xạ trị. Xạ trị có thể dùng máy ( xạ trị ngoài).Xạ trị cũng có thể là xạ trị bên trong ( túi chứa hoạt chất phóng xạ) đặt trong cơ thể trực tiếp trên khối u hoặc đặt gần khối u ( gọi là xạ trị trong). Một số bệnh nhân được dùng đồng thời 2 loại xạ trị này.

Xạ trị ngoài thường dùng cho bệnh nhân điều trị ngoại trú bệnh viện hay nằm viện 5 ngày hoặc vài tuần. Người bệnh không mang chất phóng xạ trong người trong lúc điều trị hay sau khi điều trị.

Đối với xạ trị trong, người bệnh buộc phải nằm viện ít hôm.Chất phóng xạ cấy trong cơ thể người bệnh tạm thời hay thường trực. Bởi vì mức chất phóng xạ cao trong suốt thời gian nằm viện, người bệnh không được phép thăm viếng, hay cho người khác đến thăm, nếu có chỉ được thăm trong thời gian ngắn, nhằm tránh lây nhiễm chất phóng xạ cho người khác . Khi gở bỏ chất phóng xạ, thì sẽ không còn hoạt tính phóng xạ trong cơ thể nữa .Số lượng chất phóng xạ thường trực giảm xuống tới mức an toàn khi người bệnh ra viện

Tác dụng phụ của xạ trị là gì?

Với xạ trị, tác dụng phụ tuỳ thuộc vào liều xạ trị, vị trí xạ trị trên cơ thể. Tác dụng phụ thường gặp nhất là mệt mõi, phản ứng da(như đỏ da,tăng sắc tố da, sẹo da) ở vùng xạ trị và chán ăn. Xạ trị có thể gây viêm mô và cơ quan quanh vùng xạ trị.Ngoài ra, xạ trị có thể làm giảm số lượng tế bào bạch cầu trong máu, là loại tế bào giúp bảo vệ cơ thể chống lại nhiễm trùng.

Mặc dù tác dụng phụ của xạ trị thuờng gây cho người bệnh cảm giác khó chịu,nhưng tác dụng phụ này có thể điều trị và kiểm soát được.
(Theo VNDOC 's Blog Sưu Tầm)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Nong mạch vành, còn được gọi là tái tạo động mạch vành bằng bóng qua da, hay nong động mạch vành bằng bóng, là một thủ thuật nhằm làm tăng lượng máu và oxy qua một động mạch vành bị tắc mà không cần phải phẫu thuật. Bác sĩ sẽ dùng một dụng cụ gọi là catheter có trang bị một bóng nhỏ để nong rộng lòng của động mạch bị tắc một phần.

Khi nào thì cần nong mạch vành ?

Nong mạch vành có thể được sử dụng khi một hay nhiều động mạch vành bị hẹp lòng bởi sự tích tụ dần dần của cholesterol và mô sợi trong lòng động mạch. Thành động mạch sẽ dày lên, gọi là xơ vữa động mạch, có thể dẫn đến đau ngực và đột quị tim.

Nong mạch vành là phương pháp điều trị thay thế của phẫu thuật bắc cầu mạch vành, một phẫu thuật cần phải mở lồng ngực. Kỹ thuật nong mạch vành cũng có thể được sử dụng đối với các động mạch bị tắc ở não, cổ, thận, hông, bụng, đùi và cẳng chân.

Bệnh nhân chuẩn bị như thế nào trước khi nong mạch vành?

Bác sĩ có thể chỉ định bệnh nhân dùng aspirin hay các thuốc chống đông khác trước khi làm thủ thuật nong mạch vành để giảm nguy cơ hình thành cục máu đông. Bệnh nhân cũng có thể được yêu cầu không ăn uống gì sau nửa đêm trước ngày làm thủ thuật. Cũng nên hỏi ý kiến bác sĩ về các thuốc bệnh nhân thường dùng trong ngày làm thủ thuật. Ngoài ra, bệnh nhân sẽ được kiểm tra điện tâm đồ, X-quang ngực và công thức máu trước khi thực hiện nong mạch vành.

Nong mạch vành được thực hiện như thế nào ?

Nong mạch vành thường được thực hiện trong bệnh viện. Trước thủ thuật, bệnh nhân sẽ được đặt một đường truyền tĩnh mạch ở cánh tay. Bệnh nhân sẽ được truyền thuốc an thần nhưng vẫn giữ tĩnh, tim và sinh hiệu được theo dõi liên tục bằng các thiết bị nối với bệnh nhân.

Sau khi gây tê tại chỗ, một ống catheter sẽ được đặt vào động mạch đùi ở vùng háng hoặc đôi lúc đặt vào động mạch cánh tay ở mặt trong khuỷu tay. Từ vị trí này, catheter sẽ được luồn vào trong động mạch bệnh nhân. Khi catheter đã vào trong lòng mạch, chất cản quang sẽ được bơm vào mạch, giúp bác sĩ thấy được hình ảnh bên trong lòng động mạch, nhằm xác định chính xác vị trí và mức độ tắc nghẽn của mạch máu. Các hình ảnh này được gọi là động mạch đồ và có nhiệm vụ làm bản đồ chỉ dẫn cho các bác sĩ để phá vỡ các tắc nghẽn.

Một kỹ thuật khác, được gọi là nong mạch vành bằng laser, sử dụng tia laser phát ra các sóng ánh sáng dao động làm tan các mảng xơ vữa. Bác sĩ cũng có thể bơm một bóng nhỏ (nong mạch vành bằng bóng) để ép các mảng xơ mỡ lắng đọng vào thành động mạch. Ngày càng có nhiều bác sĩ chọn phương pháp đặt một ống bằng lưới kim loại (stent) vào động mạch sau khi nong, để giúp giữ cho động mạch không hẹp lại trong thời gian dài.

Sau khi kết thúc thủ thuật, ống catheter ở háng hay ở cánh tay sẽ được rút ra và vị trí đặt catheter này sẽ được ép lại trong vòng 15 đến 20 phút. Bệnh nhân sẽ được theo dõi trong phòng hồi sức từ 30 đến 60 phút.

Nguy cơ và biến chứng.

Bệnh nhân có thể có cảm giác đè ép và khó chịu trong lúc làm thủ thuật. Đối với 10 đến 20 phần trăm bệnh nhân, động mạch bị tái hẹp trong vòng 6 tháng sau khi nong. Hiếm khi gặp các biến chứng nặng như nhồi máu cơ tim, đột tử do tim hay phải phẫu thuật bắc cầu cấp cứu.

Tuy nhiên, nếu động mạch được nong bị tắc lại sớm sau khi nong (tình trạng này gọi là đóng mạch máu đột ngột), bệnh nhân có thể cần phải thực hiện phẫu thuật bắc cầu cấp cứu.

Chú ý gì sau nong mạch vành ?

Bệnh nhân có thể hơi lơ mơ vì thuốc an thần, tại vị trí đặt catheter có thể bị bầm máu và đau. Nhân viên y tế sẽ tiếp túc theo dõi sinh hiệu bệnh nhân, và bệnh nhân cần nằm thẳng chân từ 6 đến 8 tiếng đồng hồ. Bệnh nhân sẽ được cho uống nước và ăn lúc trở về phòng. Cần báo cho y tá hay bác sĩ ngay lập tức nếu bệnh nhân thấy khó chịu ở ngực sau khi làm thủ thuật.

Bệnh nhân có thể xuất viện sau 24 giờ, và được sắp lịch tái khám với bác sĩ tim mạch.

Những chỉ dẫn sau thủ thuật thường là không mang vác vật nặng, không hoạt động gắng sức, không quan hệ tình dục trong vài ngày, chú ý vị trí đặt catheter và uống thuốc. Hầu hết các bệnh nhân có thể làm việc trở lại bình thường sau 1 hoặc 2 ngày. Cần liên lạc bác sĩ ngay nếu thấy có chảy máu hay đau tại vị trí đặt catheter.

Có phương pháp điều trị nào khác bên cạnh nong mạch vành không ?

Quyết định chọn cách điều trị tốt nhất cho một động mạch vành bị tắc phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Ví dụ như tuổi của bệnh nhân, các bệnh lý cơ bản, vị trí và mức độ tắc nghẽn đều phải được xem xét trước khi kế hoạch điều trị được vạch ra. Nói chung, nong mạch vành có ít nguy cơ hơn phẫu thuật bắc cầu mạch vành vì tính xâm lấn, và thường được thực hiện trước khi có thể dùng bóng catheter luồn đến vùng đóng mảng xơ vữa.
(Theo VNDOC 's Blog Sưu Tầm)
-->đọc tiếp...

| 1 tin nhắn ]

Nội soi là gì ?

Nội soi là phương pháp mà các nhà chuyên môn về tiêu hóa có thể sử dụng để thám sát đường tiêu hóa gồm thực quản, dạ dày, tá tràng bằng cách dùng một ống nhỏ mềm mại dễ uốn cong, bác sĩ có thể xem trực tiếp hay qua một màn hình.

Chuẩn bị nội soi như thế nào ?

Để dễ quan sát, an toàn và trọn vẹn, dạ dày phải trống. Bạn sẽ được yêu cầu không ăn và uống ít nhất 6 giờ trước khi làm nội soi. Trước tiên, để lên kế hoạch nội soi bạn nên cho bác sĩ biết những loại thuốc bạn đang sử dụng, những tác nhân gây dị ứng và tất cả những vấn đề về sức khoẻ của bạn. Tất cả những thông tin đó nhắc nhở bác sĩ xác định xem bạn có cần kháng sinh trước khi nội soi hay không, những loại thuốc nào không nên dùng do bạn dị ứng, và sẽ lên kế hoạch phù hợp cũng như chỉ dẫn những ảnh hưởng của thuốc cũng như điều chỉnh thuốc thích hợp trước khi nôi soi. Những vấn đề về sức khoẻ như bệnh tim hay phổi phải báo cho bác sĩ biết để có những can thiệp kịp thời trong khi soi.

Tại sao phải lên chương trình khi nội soi ?

Nội soi thường được thực hiện đánh giá và xác định những vấn đề ở thực quản, dạ dày, tá tràng, và đánh giá những triệu chứng như đau bụng vùng thượng vị, buồn nôn, ói, khó nuốt, thiếu máu, …Nội soi xác định chính xác hơn x quang tình trạng viêm hay những tổn thương nhỏ như ung thư hay khối u bằng dụng cụ đưa vào tới tổn thương. Lợi điểm chủ yếu nhất của nội soi là khả năng thực hiện sinh thiết ( lấy một mẫu mô nhỏ ) hay làm tế bào học ( một vài tế bào được lấy bằng dụng cụ chải niêm mạc ) và xem qua kính hiển vi để xác định bản chất của nó và xem có những tổn thương lành tính hay ác tính hay không. Sinh thiết được chỉ định làm bởi nhiều lí do và không có nghĩa là nghi ngờ ung thư. Nội soi còn là phương pháp điều trị. Các kênh của ống nội soi cho phép đưa vào những dụng cụ để điều trị như làm nong đoạn hẹp (ống tiêu hóa bị teo ), lấy đi một khối u lành tính như polyp, chích cầm máu. Điều trị xuất huyết tiêu hóa trên do ung thư hay xuất huyết niêm mạc ( viêm loét dạ dày tá tràng ), nhờ vào can thiệp bằng nội soi đã làm giảm được các trường hợp phải truyền máu hay phẫu thuật.

Có thể mong đợi gì trong khi nội soi ?

Trước khi thực hiện nội soi bác sĩ sẽ giải thích cho bạn biết tại sao cần phải thực hiện nội soi, những biến chứng do nội soi có thể xảy ra. Cách thực hiện có khác nhau giữa các bác sĩ nhưng chính vẫn là: Bạn được xịt một lượng dung dịch thuốc tê vào họng và có thể dùng thuốc an thần và giảm đau chích tĩnh mạch. Trong khi soi bạn nằm nghiêng bên trái bên cạnh ống soi, ống to cỡ ngón tay được đưa vào miệng đi xuống thực quản, dạ dày, và tá tràng. Phương pháp này KHÔNG làm cản trở sự thở của bạn. Đa số bệnh nhân trải qua cuộc soi một cách nhẹ nhàng chỉ một số thấy khó chịu chút xíu.

Điều gì xảy ra sau khi soi ?

Sau khi soi xong, bạn được quan sát và theo dõi ở khu vực hồi sức cho đến khi những dấu hiệu của thuốc đã dùng biến mất. Thông thường bệnh nhân cảm thấy đau họng nhẹ và sẽ mau chóng biến mất khi ngậm hay súc miệng với nước muối, hay cảm giác đầy hơi do hơi được bơm vào khi soi. Cả hai triệu chứng này nhẹ và sẽ qua mau. Ở khu vực hồi sức bạn được hướng dẫn khi nào sẽ được ăn lại bình thường và khi nào sẽ được đưa về nhà (bởi vì, do tác dụng thuốc an thần cho nên bạn không tự lái xe và điều khiển máy móc ngay được. )

Khi nào có kết quả nội soi ?

Hầu hết các trường hợp, bác sĩ nội soi sẽ cho bạn biết kết quả hay những gì thấy được trước khi chuyển đến khu hồi sức. Kết quả sinh thiết hay tế bào thường mất 72-96 giờ và trước khi có kết quả bác sĩ chỉ có thể cho bạn một kết quả sơ bộ chứ chưa phải là kết quả cuối cùng.

Nguy cơ gì khi soi ?

Nội soi là phương pháp an toàn và được thực hiện bởi những bác sĩ chuyên về soi đã được huấn luyện. Biến chứng do nội soi thì cực kỳ hiếm. Có thể là sự kích thích tại chỗ tiêm thuốc, phản ứng với các thuốc hay thuốc an thần được sử dụng, biến chứng do bệnh lý tim phổi hay gan có trước đó, có thể chảy máu nơi sinh thiết hay cắt polyp. Biến chứng hiếm khi xảy ra là thủng ruột và đòi hỏi phải phẫu thuật sữa chữa.

Những thắc mắc khác ?

Những thắc mắc về giá tiền, về bảo hiểm, cách uống thuốc hay những lo ngại về phương pháp này. Đừng do dự nói với bác sĩ của bạn. Hầu hết các bác sĩ nội soi đều được huấn luyện về chuyên môn rất vững và họ rất hài lòng để giải đáp những thắc mắc của bạn về việc nội soi tiêu hóa.
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Máy hoạt động như thế nào?

Các điện cực(là những miếng dẫn điện nhỏ) được đặt lên ngực và gắn với một máy theo dõi nhỏ có chức năng ghi nhớ mà người bệnh có thể mang trong túi áo hoặc trong một bao nhỏ đeo quanh cổ. Máy này được chạy bằng pin.

Các hoạt động điện tim của bệnh nhân được ghi nhận(tương tự như đo ECG)thường trong suốt 24 giờ, trong khi người bệnh ghi chép nhật ký về các hoạt động của họ. Sau đó, những thông tin được phân tích, sắp xết theo thứ tự các hoạt động của tim, và những ghi nhận bất thường về điện tim được đối chiếu với hoạt động của bệnh nhân tại thời điểm đó.

Việc các bệnh nhân ghi nhận chính xác triệu chứng và các hoạt động của họ là rất quan trọng để người bác sĩ có thể đối chiếu chúng với những phát hiện trên máy theo dõi Holter.

Chuẩn bị trước khi dùng máy.

Không cần sự chuẩn bị đặc biệt nào khi sử dụng máy. Nhân viên y tế sẽ khởi động máy theo dõi, sau đó người bệnh được hướng dẫn cách đặt lại các điện cực khi chúng bị lỏng. Ngoài ra, người bệnh cũng sẽ được hướng dẫn cách ghi chép lại các hoạt động trong nhật ký.

Hãy khai báo với bác sĩ nếu bạn bị dị ứng đối với bất cứ loại băng dính nào cũng như các loại chất keo khác.Nên tắm trước khi bắt đầu gắn máy-người bệnh sẽ không được tắm khi mang máy Holter.
Cảm giác đeo máy như thế nào?

Sẽ không có cảm giác khó chịu nào khi dùng máy. Có thể phải cạo lớp lông ngực để dán các điện cực. Người bệnh cần để máy sát với cơ thể, hoặc để trong túi áo hoặc trong bao đeo quanh vai, cổ.

Trong khi mang máy, người bệnh vẫn sinh hoạt bình thường.
Tại sao phải mang máy theo dõi?

Máy theo dõi Holter được sử dụng để kiểm tra đáp ứng của tim với các hoạt động bình thường. Ngoài ra, máy Holter còn được sử dụng trong các trường hợp:

· Khi đưa ra các quyết định dùng thuốc tim mạch

· Sau một cơn đột quị

· Để chẩn đoán nhịp tim bất thường hoặc nguy hiểm

Các yếu tố nguy cơ

Không có một yếu tố nguy cơ nào khi sử dụng máy. Tuy nhiên, người bệnh nên đảm bảo máy không bị ướt.
Những điều cần lưu ý

Các điện cực phải được gắn chặt vào thành ngực để cho phép ghi nhận chính xác các hoạt động của tim.

Tránh các nam châm, máy dò tìm kim loại, chăn(mền)bằng điện và những khu vực có điện thế cao khi mang máy.
Các giá trị bình thường

Nhịp tim thay đổi bình thường tuỳ theo các hoạt động. Nhịp tim không có những thay đổi đáng kể nào hoặc không có đoạn ST chênh lên.

Những kết quả bất thường

Các kết quả bất thường có thể gồm các loại loạn nhịp. Những thay đổi về đoạn ST (những thay đổi về hình dạng sóng của các kiểu dẫn truyền điện thể của tim) có thể cho thấy tim không nhận đủ oxy và cũng có thể tương quan đến triệu chứng đau ngực.

Những chỉ định khác của máy theo dõi bao gồm:

· Rung nhĩ/cuồng nhĩ

· Nhịp nhanh nhĩ đa ổ

· Nhịp nhanh kịch phát trên thất

· Đánh trống ngực

· Ngất
(Theo VNDOC 's Blog Sưu Tầm)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Xét nghiệm được thực hiện như thế nào?

Loại xét nghiệm này được thực hiện tại phòng siêu âm hoặc phòng X-quang hoặc trong phòng chụp mạch máu ngoại biên.

Để khám tĩnh mạch:

Một chất gel tan trong nước được đặt trên đầu dò (một thiết bị cầm tay hướng những sóng âm thanh tần số cao vào động mạch hoặc tĩnh mạch cần khám) và trên vùng da của chi có tĩnh mạch cần khảo sát.

Nếu hệ thống tĩnh mạch bình thường, trên máy Doppler sẽ phát ra một âm vút mạnh. Cả hai loại hệ thống tĩnh mạch sâu và nông đều được đánh giá.

Để khám động mạch:

Túi hơi của máy đo huyết áp được quấn quanh đùi, bắp chân, và gót để khám hai chi dưới. Ở hai chi trên, các túi bơm được đặt tại những điểm khác nhau. Vùng da tay trên chỗ động mạch cần khám được bôi một chất có tính truyền dẫn. Túi hơi sẽ được bơm lên trên trị số huyết áp tâm thu.

Đầu dò được đặt căng túi hơi, và áp suất trong túi được xả ra từ từ. Khi nghe được một tiếng vút mạnh thì đó chính là huyết áp. Qui trình này được giống nhau với các túi hơi còn lại.
Chuẩn bị trước khi xét nghiệm?

Người bệnh cần phải cởi bỏ quần áo ở các vùng chi cần khám.

Loại xét nghiệm này có rất ít hoặc không có cảm giác khó chịu nào.

Tại sao phải làm xét nghiệm?

Siêu âm Doppler có thể được dùng trong chụp động mạch và tĩnh mạch. Phương pháp này giúp phát hiện cục máu đông, suy tĩnh mạch, tắc động mạch, bất thường dòng chảy động mạch cảnh do hẹp và giúp đánh giá tổn thương các động mạch. Siêu âm Doppler cũng được dùng để theo dõi tái tạo mạch máu và ghép bắc cầu.
Các yếu tố nguy cơ
Phương pháp này không có nguy cơ đặc biệt nào.
Những điều cần lưu ý

Hút thuốc lá có thể làm thay đổi kết quả xét nghiệm, bởi vì chất nicotine có thể gây co thắt các động mạch vùng chi.

Bỏ thuốc lá làm giảm đáng kể nguy cơ mắc các vấn đề của hệ tim mạch. Hầu hết các trường hợp tử vong do hút thuốc là do bệnh lý tim mạch chứ không phải do ung thư phổi.

Các giá trị bình thường

· Không thấy bằng chứng của hẹp hoặc tắc các tĩnh mạch

· Các thành phần tâm thu và tâm trương của động mạch bình thường

· Huyết áp bình thường

· Các mạch máu không có dấu hiệu hẹp hoặc tắc mạch.

· Chỉ số huyết áp động mạch cánh tay-cổ chân (là sự so sánh huyết áp động mạch tại vùng cổ chân với vùng cánh tay) là 0.85 hoặc lớn hơn.
Kết quả bất thường

· Ở tĩnh mạch:

o Tắc tĩnh mạch

o Có cục máu đông

· Ở động mạch:

o Bệnh lý gây tắc nghẽn động mạch

o Bệnh lý gây co thắt động mạch (co thắt động mạch do lạnh hoặc do xúc động).

o Thuyên tắc động mạch (tắc động mạch do cục máu đông, hạt mỡ hoặc bóng khí)

Một số bệnh lý khác cũng có thể cho chỉ định siêu âm Doppler:

· Bóc tách động mạch.

· Xơ cứng động mạch các chi

· Hẹp cung động mạch chủ

· Huyết khối tĩnh mạch sâu

· Đột quị thứ phát do hẹp động mạch cảnh

· Viêm huyết khối tĩnh mạch nông

· Tắc tĩnh mạch chủ trên

· Viêm mạch tạo huyết khối gây tắc nghẽn.

· Các u mạch máu vùng chi.
(Theo VNDOC 's Blog Sưu Tầm)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Một nghiên cứu mới được công bố cho thấy phóng xạ từ chụp cắt lớp (CT scan) có thể làm tăng nguy cơ ung thư, đặc biệt đối với trẻ em.

China Daily trích nghiên cứu được thực hiện bởi các giáo sư Trường ĐH Columbia và Trường ĐH về X-quang Mỹ cho thấy khoảng 2% trong tổng số các ca ung thư ở Mỹ có thể xuất phát từ phóng xạ chụp cắt lớp.

Theo các bác sĩ, con số này có thể còn nhiều hơn do ung thư từ phóng xạ có khi cần 10-20 năm để theo dõi mới xác định chính xác được. Các nhà khoa học cho biết tác hại của một lần chụp đối với cá nhân thì không nhiều nhưng việc chụp nhiều lần có thể làm tăng nguy cơ ung thư.

Tỉ lệ người Mỹ tiếp xúc với loại phóng xạ này đã tăng gần gấp đôi kể từ năm 1980 tới nay, chủ yếu là do chụp cắt lớp. Nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học này hồi năm 2001 cũng chỉ ra rằng có nhiều cách để hạn chế bớt những lần chụp như vậy, đặc biệt đối với trẻ em. Trong năm ngoái có khoảng 62 triệu lượt bệnh nhân (trong đó có 4 triệu lượt là trẻ em) tiến hành chụp cắt lớp ở Mỹ, tăng rất nhiều so với con số 3 triệu hồi năm 1980.

Cho đến nay việc chụp cắt lớp trở nên khá phổ biến vì tương đối rẻ, không gây đau đớn và có thể nhanh chóng đưa ra bức ảnh ba chiều chi tiết. Bác sĩ hiện hay dùng chụp cắt lớp để đánh giá những chấn thương, đau ở bụng, đau đầu kinh niên, sỏi thận. Đối với trẻ em họ thường dùng để kiểm tra xem có mắc ruột thừa hay không.

Theo tính toán, một lần chụp cắt lớp ngực có tỉ lệ phóng xạ gấp 1.000 lần so với chụp X-quang thông thường. Đặc biệt những người bị mắc sỏi thận thường có tỉ lệ chụp cắt lớp nhiều hơn các người khác, đồng nghĩa với việc có nguy cơ nhiễm xạ càng cao do các phóng xạ này thường tích tụ lại trong người.

Tiến sĩ Fred Mettler phụ trách về X-quang tại Cơ quan cựu binh ở bang New Mexico cho biết từng gặp những người mới 30 tuổi mà đã có tới 18 lần chụp cắt lớp.

tuoitre
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Tên gọi khác

EEG : Electroencephalogram; Điện não đồ ; Xét nghiệm kiểm tra sóng não.
Khái niệm

Điện não đồ là một xét nghiệm nhằm phát hiện những bất thường trong hoạt động điện của não.
Xét nghiệm được thực hiện như thế nào?

Các tế bào não liên lạc với nhau nhờ tạo ra những sóng điện nhỏ. Trong xét nghiệm điện não đồ, nhiều điện cực được đặt ở vùng da đầu ứng với nhiều vùng khác nhau của não nhằm phát hiện và ghi nhận các kiểu hoạt động điện cũng như tìm kiếm những bất thường.

Xét nghiệm được thực hiện bởi các kỹ thuật viên đo điện não đồ trong một phòng thiết kế đặc biệt tại bệnh viện hoặc phòng khám. Người bệnh có thể nằm trên bàn hoặc ngồi trên ghế dựa.

Kỹ thuật viên sẽ đặt 16 đến 25 đĩa kim loại dẹt (là các điện cực) lên vùng da đầu ở những vị trí khác nhau . Những đĩa kim loại này được cố định bởi một miếng dính. Các điện cực được nối với một máy khuếch đại và một máy ghi.

Máy ghi chuyển đổi các tín hiệu điện thành một chuỗi các sóng và vẽ chúng lên giấy ghi chuyển động liên tục. Người bệnh cần phải nhắm mắt, và nằm yên vì bất kì một cử động nào cũng có thể làm thay đổi kết quả.

Trong quá trình làm xét nghiệm, người bệnh có thể phải thực hiện một số yêu cầu như thở sâu và nhanh trong vài phút hoặc nhìn vào ánh đèn đang chớp tắt.
Chuẩn bị trước khi làm xét nghiệm?

Người bệnh nên gội sạch tóc vào đêm trước khi làm xét nghiệm. Không được sử dụng bất cứ loại dầu, thuốc xịt hoặc các hoá chất dành riêng cho tóc nào trước khi làm xét nghiệm.

Nhân viên y tế có thể yêu cầu người bệnh ngưng một số loại thuốc trước khi làm xét nghiệm. Không nên tự ý ngưng hoặc đổi thuốc khi không có chỉ dẫn của thầy thuốc.

Người bệnh cần tránh các loại thực phẩm chứa caffeine trong vòng 8h trước khi làm xét nghiệm này.

Đôi khi, người bệnh được yêu cầu ngủ ít đi trước khi làm xét nghiệm để có thể ngủ trong suốt quá trình đo điện não đồ.

Nhũ nhi và trẻ em:

Việc chuẩn bị về thể chất và tâm lý cho bệnh nhân đối với xét nghiệm này hay bất kỳ xét nghiệm nào khác phụ thuộc vào lứa tuổi của trẻ,thái độ, đã từng được xét nghiệm trước đó và mức độ tin tưởng của trẻ. Để có những thông tin chuyên biệt về cách chuẩn bị cho trẻ,hãy xem những bài chuyên đề sau(viết tương ứng với độ tuổi của trẻ):

§ Các xét nghiệm ở trẻ nhũ nhi hay những chuẩn bị trước thủ thuật(từ lúc sinh đến 1 tuổi)

§ Các xét nghiệm ở trẻ tập đi hay những chuẩn bị trước thủ thuật(từ 1 đến 3 tuổi)

§ Các xét nghiệm ở trẻ mẫu giáo hay những chuẩn bị trước thủ thuật ( từ 3 đến 6 tuổi)

§ Các xét nghiệm ở trẻ đang đi học hay những chuẩn bị trước thủ thuật (từ 6 đến 12 tuổi)

§ Các xét nghiệm ở trẻ vị thành niên hay những chuẩn bị trước thủ thuật(từ 12 đến 18 tuổi).
Xét nghiệm có gây đau không?

Xét nghiệm điện não đồ không gây một khó chịu nào. Mặc dù việc dán các điện cực lên da có thể gây cảm giác lạ lẫm nhưng chúng chỉ làm nhiệm vụ ghi nhận các hoạt động và không tạo ra bất cứ cảm giác nào.
Tại sao phải làm xét nghiệm?

EEG được dùng để giúp chẩn đoán xác định cũng như các dạng rối loạn co giật, để tìm nguyên nhân của tình trạng lú lẫn, và để đánh giá các chấn thương vùng đầu, tổn thương não do khối u, nhiễm trùng, bệnh lý thoái hoá ,và các rối loạn chuyển hoá.

EEG cũng được dùng để đánh giá các rối loạn về giấc ngủ và các giai đoạn của ngất. EEG có thể dùng để xác định có chết não trên một bệnh nhân hôn mê.

EEG không phải là loại xét nghiệm “đọc các ý nghĩ”, đo chỉ số thông minh hay để chẩn đoán bệnh tâm thần.
Các yếu tố nguy cơ

Phương pháp này rất an toàn. Nếu người bệnh bị một bệnh lý co giật thì cơn co giật có thể khởi phát dưới những chớp ánh sáng hay khi bị tăng thông khí. Nhân viên y tế làm công tác đo điện não đồ đã được huấn luyện chăm sóc người bệnh khi các tình huống này xảy ra.
Các giá trị bình thường

Các sóng não có tần số và biên độ cũng như các đặc tính khác đều bình thường.
Các kết quả bất thường

Những kết quả bất thường có thể là do:

§ Các rối loạn co giật (như động kinh hoặc múa vờn)

§ Bất thường cấu trúc não (như u não hoặc ap-xe não)

§ Chấn thương đầu, viêm não

§ Xuất huyết (chảy máu bất thường do vỡ mạch máu não)

§ Nhồi máu não (là hiện tượng các mô não bị chết do tắc nghẽn mạch máu cung cấp)

§ Rối loạn giấc ngủ (như trong chứng có các giấc ngủ thoáng qua-)

EEG có thể xác định tình trạng chết não ở một bệnh nhân bị hôn mê.

EEG cũng có thể được chỉ định trong các trường hợp sau:

§ Dị dạng mạch máu (não)

§ Chóng mặt theo tư thế lành tính

§ Phình mạch máu não

§ Hội chứng cai rượu (chứng mê sảng rượu cấp)

§ Bệnh Creutzheldt-Jacob

§ Mê sảng

§ Tình trạng sa sút trí tuệ

§ Tình trạng sa sút trí tuệ do chuyển hoá

§ Sốt cao co giật (ở trẻ em)

§ Cơn co-giật toàn thân

§ Hôn mê gan

§ Hội chứng gan thận

§ Mất ngủ

§ Viêm mê đạo (vùng tai)

§ Bệnh Meniere

§ U di căn não

§ Bệnh xơ cứng rải rác

§ U thần kinh đệm của mắt

§ Động kinh cục bộ

§ Động kinh cục bộ phức tạp

§ Động kinh tiềm ẩn

§ Bệnh Pick

§ Sa sút tâm thần ở người già (bệnh Alzheimer)

§ Hội chứng Shy-Drager

§ Viêm màng não vô trùng do giang mai
Động kinh do thuỳ thái dương
(Theo BSGĐ)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Xét nghiệm được thực hiện như thế nào?

Trong khi bệnh nhân đi trên máy tập chạy hoặc đạp xe đạp, một máy đo điện tim được dùng để ghi nhận hoạt động của tim cùng với máy đo huyết áp. Đáp ứng của tim đối với việc tăng công này sẽ được theo dõi.

Xét nghiệm được thực hiện cho tới khi bệnh nhân có nhịp tim tăng đến một trị số cho trước nếu không có biến chứng như đau ngực hoặc tăng huyết áp quá mức diễn tiến theo mức độ vận động. Việc theo dõi tiếp tục sau khi gắng sức 10 đến 15 phút hoặc cho tới khi nhịp tim trở về bình thường.
Chuẩn bị trước khi làm xét nghiệm?

· Không được ăn, hút thuốc, hoặc uống nước giải khát có caffein hoặc rượu trong vòng 3 giờ trước khi làm xét nghiệm.

· Vẫn dùng các loại thuốc nếu không có hướng dẫn khác

· Mang giày và mặc trang phục thích hợp với bài tập

Khai báo với bác sĩ nếu bạn có dùng sildenafil citrate (Viagra) và đã uống một liều trong 24 giờ trước đó. Một loại thuốc tên là nitroglycerin mà thỉnh thoảng được dùng để giảm đau ngực khi làm ECG gắng sức sẽ không được chỉ định cho bệnh nhân vừa dùng Viagra vì nó có thể làm tụt huyết áp nguy hiểm.
Xét nghiệm có gây đau không?

Các điện cực (những miếng dẫn truyền) được đặt lên ngực, tay và chân để ghi nhận hoạt động của tim. Công tác chuẩn bị những vị trí đặt điện cực trên ngực có thể gây gảm giác nóng nhẹ hoặc châm chích.

Một bao hơi của máy đo huyết áp quấn quanh cánh tay bệnh nhân và sẽ được bơm căng mỗi vài phút, tạo cảm giác đè ép, thít chặt. Trước khi làm nghiệm pháp gắng sức, các thông số cơ bản về nhịp tim và huyết áp phải được ghi nhận.

Bệnh nhân sẽ bắt đầu đi bộ trên máy tập hoặc đạp xe đạp. Tốc độ máy tập sẽ được tăng dần.

Bệnh nhân hiếm khi trải qua cơn đau ngực, đánh trống ngực, choáng váng hoặc khó thở trong khi làm xét nghiệm.
Tại sao phải làm xét nghiệm?

Nghiệm pháp gắng sức được thực hiện nhằm xác định nguyên nhân gây đau ngực, xác định khả năng gắng sức của tim, xác định mức độ gắng sức thích hợp ở những người bắt đầu chương trình luyện tập thể dục, và xác định rối loạn nhịp trong quá trình gắng sức. Nhân viên y tế cũng có thể có mục đích khác khi cho chỉ định làm xét nghiệm trên.
Yếu tố nguy cơ

Các nghiệm pháp gắng sức nhìn chung là an toàn. Một số bệnh nhân có thể có đau ngực hoặc ngất, hoặc trụy tim mạch. Một cơn nhồi máu cơ tim hoặc loạn nhịp nguy hiểm hiếm khi xảy ra nhưng nếu có thì bệnh nhân cũng đã được chuẩn bị cấp cứu đầy đủ.

Những bệnh nhân có các biến chứng kể trên thường được coi là có tim yếu nên họ không có chỉ định làm xét nghiệm.
Những điều cần lưu ý

Nghiệm pháp gắng sức ít chính xác trên phụ nữ trẻ hoặc trung niên với các triệu chứng không điển hình của bệnh tim.
Giá trị bình thường

Bình thường khi nhịp tim tăng tỉ lệ với công gắng sức và đạt được các trị số đề ra theo tuổi và mức độ luyện tập.
Các kết quả bất thường

Kết quả bất thường có thể cho thấy loạn nhịp khi gắng sức, vào cơn stress tim khi gắng sức, khả năng có bệnh lý mạch máu nghĩa là tắc động mạch hoặc thể chất yếu.
(Theo VNDOC 's Blog Sưu Tầm)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Đo điện cơ là gì ?

Đo điện cơ là một kỹ thuật ghi lại hoạt động điện của cơ. Khi cơ hoạt động sẽ sinh ra dòng điện. Dòng điện này thường tỉ lệ với mức độ hoạt động của cơ. Đo điện cơ còn được gọi là điện cơ đồ.

Đo điện cơ có thể được dùng để phát hiện bất thường hoạt động điện của cơ xảy ra ở bất kỳ bệnh lý nào bao gồm bệnh loạn dưỡng cơ, viêm cơ, bệnh thần kinh gây đau, tổn thương thần kinh ngoại biên ( tổn thương thần kinh cẳng tay, chân ), xơ cứng cột bên teo cơ ( còn gọi là bệnh Lou Gehrig ), nhược cơ, thoát vị đĩa đệm và các bệnh khác.

Tại sao phải đo điện cơ?

Đo điện cơ thường được thực hiện khi người bệnh bị yếu cơ mà không giải thích được. Đo điện cơ giúp phân biệt giữa bệnh cơ mà trong đó nguyên nhân gây bệnh xuất phát từ cơ và yếu cơ do rối loạn thần kinh. Đo điện cơ cũng có thể sử dụng để phát hiện yếu cơ thật sự, ngược với yếu cơ do đau làm người bệnh không dám cử động nhiều.

Có mấy loại đo điện cơ?

Có 2 kiểu đo điện cơ là đo điện bên trong cơ và đo điện ở bề mặt da.

Đo điện bên trong cơ (là cách thường dùng nhất), cắm một kim điện cực xuyên qua da vào bên trong cơ để đo hoạt động điện.

Đo điện cơ ở bề mặt bằng cách đặt một điện cực lên bề mặt da( mà không cắm điện cực vào sâu bên trong cơ) để đo hoạt động điện của cơ.

Đo điện bên trong cơ là dạng kinh điển của đo điện cơ trên bề mặt (sẽ đề cặp chính trong bài này).

Đo điện bên trong cơ được thực hiện như thế nào?

Một cây kim cắm xuyên qua da vào cơ cần đo. Cây kim này sẽ phát hiện hoạt động điện của cơ(giống như một điện cực). Hoạt động điện được biểu hiện trên máy đo dao động ký và cũng có thể thể hiện được dưới dạng âm thanh qua một máy nghe microphone( loại nghe đeo ở tai).

Vì các cơ xương( cơ vân) thường lớn, cho nên điện cực cần phải cắm nhiều nơi trên cơ mới có thể thu được thông tin chính xác về hoạt động của điện cơ.

Sau khi cắm điện cực, người bệnh được yêu cầu co cơ ( ví dụ co khuỷu tay).

Kích thước và hình dạng của sóng hiện tại (điện thế hoạt động) được thể hiện trên dao động ký, cung cấp thông tin về khả năng hoạt động của cơ đối với đáp ứng kích thích thần kinh. Mỗi sợi cơ khi co thắt sẽ sinh ra điện thế động. Kích thước của sợi cơ sẽ ảnh hưởng đến tần số và biên độ điện thế hoạt động.

Bạn cần phải chuẩn bị gì để đo điện cơ ?

Đối với người lớn thì không cần chuẩn bị gì đặc biệt cả. Ngược lại đối với trẻ em, thì cần phải chuẩn bị về mặt tâm lý cho trẻ tuỳ theo lứa tuổi của trẻ, thái độ của trẻ, kinh nghiệm của trẻ.( hỏi xem trẻ đã từng trải qua các sang chấn y học lần nào chưa chẳng hạn như nhổ răng, bị chích thuốc?)

Đo điện cơ có gây đau không?

Câu trả lời là CÓ. Đó là lúc cắm kim vào(điện cực) có thể làm cho bạn đau trong chốc lát. Cảm giác đau này giống như bạn có được khi chích bắp (tiêm mông). Nếu bạn đã từng được chích thuốc hay châm cứu, thì bạn không có gì phải lo lắng cả. Đau có thể hết trong vài ngày.

Đo điện cơ trên bề mặt da là gì ?

Đo điện cơ có một số đặc điểm thu hút. Đặc biệt là đo điện cơ bề mặt không cần phải đâm kim qua da và vì vậy người bệnh không bị đau. Tuy nhiên, trong y văn cho thấy rằng giá trị thông tin thu được bằng phương pháp này thường không tốt bằng so với đo điện cơ cắm vào cơ. Hiệp hội chẩn đoán bằng điện học đã báo cáo rằng :” Trên thực tế, hầu như y văn không ủng hộ việc sử dụng đo điện cơ trên bề mặt da trên lâm sàng để chẩn đoán và quản lý bệnh nhân bị bệnh về thần kinh hay cơ.” Mặc dù vậy, đo điện cơ trên bề mặt da chứng tỏ vẫn còn giá trị trong tương lai giúp theo dõi sự tiến triển các rối loạn thần kinh và cơ.

Có cần làm thêm thử nghiệm nào khác trong quá trình đo điện cơ hay không?

Thử nghiệm về tốc độ dẫn truyền thần kinh thường được thực hiện cùng lúc với đo điện cơ . Trong thử nghiệm này, dây thần kinh được kích thích bằng điện cực thứ hai phát hiện xung điện ‘ đang hạ thấp’ từ tốc độ dẫn truyền thần kinh. Đo tốc độ dẫn truyền thần kinh thường được thực hiện bằng một điện cực dán trên da( giống như trong đo điện tim) ở nhiều vị trí phân bố khác nhau của dây thần kinh. Một điện cực kích thích thần kinh có một xung điện biến đổi nhẹ. Kết quả của hoạt động điện được ghi lại bằng nhiều điện cực khác nhau. Khoảng cách giữa các điện cực và thời gian bắt xung của các điện cực giữa hai điện cực được sử dụng để tính tốc độ truyền của xung điện ( tốc độ dẫn truyền thần kinh). Khi tốc độ dẫn truyền thần kinh giảm đi nói lên có bệnh lý ở dây thần kinh.

Đo tốc độ dẫn truyền thần kinh được sử dụng để phát hiện rối loạn thần kinh thật sự ( như bệnh lý của dây thần kinh) hay bệnh lý do tổn thương thần kinh của cơ ( như hội chứng đường hầm cổ tay). Nhiệt độ cơ thể phải duy trì bình thường khi đo tốc độ dẫn truyền thần kinh, vì nếu nhiệt độ cơ thể thấp sẽ làm cho tốc độ dẫn truyền của thần kinh bị chậm lại.
(Theo BSGĐ)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




1. Hy vọng mới cho bệnh nhân tiểu đường

Một cuộc nghiên cứu mới do các nhà khoa học tại Viện Y khoa Howard Hughes thuộc Đại học Harvard (Mỹ) thực hiện cho thấy các tế bào tạo ra insulin trong tuyến tụy có thể tự tái sinh, mang lại hi vọng chữa bệnh tiểu đường mà không cần tiêm loại hormone này. Kết quả nghiên cứu đã được đăng trên tạp chí Nature ngày 5-5.

Nơi bệnh tiểu đường loại I, hệ miễn nhiễm của cơ thể tấn công và phá hủy một loại tế bào đặc biệt tạo ra insulin. Đây là lọai hormone quan trọng trong việc duy trì đường huyết ở mức độ cho phép. Việc tái sinh và duy trì các tế bào này trong tuyến tụy có thể giúp những người mặc bệnh tiểu đường loại I tự tạo ra insulin. Các nhà nghiên cứu đã tìm cách tạo ra nhiều tế bào đặc biệt sản sinh insulin hơn, gọi là tế bào bêta. Cuộc nghiên cứu mới được thực hiện trên chuột trong phòng thí nghiệm, cho rằng không cần phải tìm kiếm đâu xa ngòai chính các tế bào.

Mặt khác, ngày 5-5, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Liên đoàn quốc tế bệnh tiểu đường (IDF) đã công bố số liệu cho biết số người mắc bệnh tiểu đường trên thế giới đang tăng lên rất nhanh. Năm 2000, trên thế giới đã có 171 triệu người mắc bệnh và đến năm 2030, con số này dự báo có thể lên tới 366 triệu người, trong đó số người mắc bệnh ở các nước đang phát triển có thể lên tới 150% nếu thế giới không có biện pháp ngăn chặn kịp thời.
(Tuoitre - AP)

2. Bệnh nhân bị bỏng phóng xạ do...bác sĩ

Các chuyên gia ở viện nghiên cứu hạt nhân vừa đưa ra cảnh báo về tình trạng bỏng phóng xạ ở nhiều bệnh nhân trên thế giới mà nguyên nhân là do rất nhiều bác sĩ đã không được đào tạo đúng tiêu chuẩn trong việc sử dụng các thiết bị phóng xạ y tế.

Tại hội nghị tổ chức ở Vienna của Tổ chức Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), các chuyên gia cho biết các bệnh nhân tim có nguy cơ bị bỏng phóng xạ cao nhất. Nhất là những bệnh nhân có sử dụng một ống nhỏ luồn qua các mạch máu để làm thông động mạch bị tắc nghẽn trong quá trình điều trị. Điều trị bằng phương pháp này, bệnh nhân phải tiếp xúc với phóng xạ gấp 1.000 lần việc chụp X-quang phổi.

Lewis Wagner, giáo sư về vật lý học phóng xạ ở ĐH Texas cho biết hầu hết các bác sĩ tim mạch đều không nhận thức được mức độ nghiêm trọng và những tổn thương phóng xạ của quá trình điều trị trên.

Ước tính, cứ 10.000 ca điều trị thì lại có một trường hợp bị bỏng nghiêm trọng.
(Tuoitre - Theo BBC News)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




1. Suy thận và các phương pháp lọc máu

Ngày nay, để điều trị suy thận mãn, người ta thường áp dụng lọc máu định kỳ với 2 phương pháp: Chạy thận nhân tạo và thẩm phân phúc mạc. Trong trường hợp suy thận cấp do nhiễm trùng thì người ta cũng áp dụng một trong hai cách này.

Chạy thận nhân tạo đơn giản nhưng đòi hỏi bệnh nhân phải vào bệnh viện, thẩm phân phúc mạc ít tốn kém và việc thực hiện nhanh hơn. Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu trên 2 nhóm bệnh nhân bị suy thận cấp do nhiễm trùng, một nhóm được chạy thận nhân tạo và nhóm kia được thẩm phân phúc mạc.

Kết quả nhóm bệnh nhân thẩm phân phúc mạc tử vong nhiều hơn (tỷ lệ tử vong là 47%), trong khi nhóm chạy thận nhân tạo có tỷ lệ tử vong chỉ là 5%. Ngoài ra, nhóm chạy thận nhân tạo ít tốn kém về tiền bạc, đỡ mất thời gian và creatinin máu cũng giảm được nhiều hơn.

Từ nghiên cứu này, các tác giả ở bệnh viện Churchill và Raddiffe (Anh) đã đưa ra khuyến cáo những trường hợp suy thận do nhiễm trùng nên chạy thận nhân tạo thay cho thẩm phân phúc mạc
(Theo Journal of Infection, SK&ĐS)

2. Chụp cộng hưởng từ giúp mổ u não triệt để

Ở các ca phẫu thuật cắt bỏ u não thông thường, các bác sĩ có thể bỏ sót một phần khối u. Nhưng với sự trợ giúp của kỹ thuật chụp cộng hưởng từ, họ có thể loại bỏ chúng hoàn toàn.

Trong thử nghiệm với 200 bệnh nhân u não, tiến sĩ Christopher Nimsky tại Đại học Erlangen-Nurnberg (Đức) và cộng sự nhận thấy trong các ca phẫu thuật có phối hợp chụp cộng hưởng từ, các bác sĩ phát hiện ra thêm nhiều mô bị ung thư cần được lấy ra khỏi não.

Với các ca phẫu thuật không có sự trợ giúp của phương pháp chụp cộng hưởng từ, các bác sĩ có thể bỏ sót một phần khối u. Việc này có thể dẫn đến nguy cơ bệnh nhân phải mổ lại hoặc phải tiếp tục điều trị sau khi được phẫu thuật.

"Chụp cộng hưởng từ làm tăng đáng kể độ chính xác của các ca phẫu thuật. Nó hiển thị những thông tin quý giá trong suốt quá trình phẫu thuật giúp cho các bác sĩ điều trị có cơ hội điều chỉnh phương pháp và thủ thuật của họ", Christopher Nimsky nói.
(theo Healthday)

3. Dùng tuỷ xương khôi phục tổn thương não

Một hướng đi mới trong điều trị tổn thương não ở trẻ sơ sinh: lấy tế bào gốc ở tuỷ xương thay thế cho tế bào chết trong não.

Tại festival khoa học Anh, các nhà khoa học tại Đại học Imperial (Anh) tuyên bố họ đã cấy ghép thành công tế bào gốc trong tuỷ xương của bào thai người vào não chuột sơ sinh.

Tế bào gốc ở bào thai có cấu trúc giống như tế bào gốc ở người lớn. Điểm khác biệt duy nhất là chúng được lấy từ thai nhi. Loại tế bào này có thể biến đổi thành tất cả các loại tế bào khác của cơ thể.

Tiến sĩ Huseiyn Mehmet, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết, ông hy vọng sẽ sử dụng được phương pháp này để thay thế các tế bào chết cho trẻ sơ sinh bị tổn thương não.

Có nhiều nguyên nhân gây ra tổn thương não ở trẻ sơ sinh, chẳng hạn trẻ bị dây rốn quấn cổ, làm thiếu máu cung cấp lên não. Một nghiên cứu cho thấy, những trẻ sinh trước 30 tuần có 80% nguy cơ mắc một số dạng tổn thương thần kinh. Khi các mô bị tổn thương, các tế bào xung quanh khu vực tổn thương dần dần chết đi theo một quy trình tự nhiên.

Nhóm nghiên cứu cho biết, tế bào gốc ở bào thai người có thể hoà nhập vào não bào thai chuột. Việc cấy ghép tế bào gốc ở bào thai người có thể kết hợp với liệu pháp làm lạnh để làm chậm lại quá trình chết đi của tế bào sau khi não bị tổn thương.
(theo BBC)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Dù có siêu âm thai, bạn cũng sẽ khó phát hiện bệnh down và một số dị tật do bất thường nhiễm sắc thể khác nếu bỏ qua thời điểm 12-14 tuần.

Bác sĩ Trần Danh Cường, Phó giám đốc Trung tâm chẩn đoán trước sinh, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, cho biết tỷ lệ thai nhi dị dạng ở Việt Nam hiện là 3%, hay gặp nhất là dị tật ở hệ thống thần kinh, đầu - mặt - cổ, ngực -bụng. Siêu âm là cách hiệu quả và đơn giản để phát hiện các khiếm khuyết này.

Theo bác sĩ Cường, có 3 lần siêu âm được coi là bắt buộc để xác định thai có bình thường hay không, đó là:

12-14 tuần: Ở thời điểm này, siêu âm giúp tính tuổi thai cực kỳ chính xác. Ngoài ra, đây cũng là thời điểm duy nhất có thể đo khoảng sáng sau gáy nhằm dự đoán một số bất thường nhiễm sắc thể nguy hiểm (gây bệnh down, dị dạng tim, chi, thoát vị cơ hoành...). Ngoài 14 tuần, việc đo này sẽ không còn chính xác nữa. Nếu khoảng sáng sau gáy tăng, vào tuần thứ 18, thai phụ cần được chọc ối để chẩn đoán bệnh down và siêu âm hình thái xem có dị dạng hay không.

21-24 tuần: Nếu người mẹ không quá béo, máy siêu âm tốt và trình độ bác sĩ ổn thì việc siêu âm lúc này có thể giúp phát hiện hầu hết các bất thường về hình thái của thai nhi như sứt môi, hở hàm ếch, dị dạng ở các cơ quan, nội tạng. Lần siêu âm này rất quan trọng vì nếu cần đình chỉ thai nghén thì phải làm trước tuần thứ 28. Sau thời gian đó, nếu kích thích đẻ non thì thai dị tật vẫn có thể sống, và việc chẩn đoán trước sinh sẽ không còn ý nghĩa.

Bác sĩ Cường nhấn mạnh, siêu âm chỉ giúp phát hiện các bất thường về hình thái - nghĩa là những gì nhìn thấy được - chứ không chẩn đoán được các rối loạn về chức năng. Có khi hình thái của cơ quan không bình thường nhưng chức năng vẫn tốt và ngược lại. Các rối loạn chức năng chỉ có thể phát hiện sau khi em bé ra đời.

30-32 tuần: Lần siêu âm này giúp phát hiện một số vấn đề hình thái xảy ra muộn như bất thường ở động mạch, tim và một vùng cấu trúc của não. Ngoài ra, siêu âm lúc 30-32 tuần cũng giúp nhận biết tình trạng phát triển chậm trong tử cung - một nguyên nhân gây suy thai và ngạt sau đẻ.

Ngoài 3 lần xét nghiệm trên, bác sĩ Trần Danh Cường cũng khuyến cáo, tất cả các thai phụ nên làm xét nghiệm sàng lọc mang tên Triple test, giúp dự đoán nguy cơ dị dạng nhiễm sắc thể của thai. Nếu kết quả dưới 1/125 thì có thể yên tâm là em bé hoàn toàn bình thường. Xét nghiệm này chính xác đến 95,5%, tuy nhiên cũng chỉ có giá trị khi được thực hiện vào tuần thai 14-17. Chi phí cho một lần làm Triple test là 250.000 đồng.

Không phải phòng siêu âm nào cũng phát hiện được dị tật thai

Nguy cơ thai dị tật tăng nếu:

- Mẹ trên 35, bố trên 55 tuổi.
- Mẹ từng mang thai dị dạng.
- Mẹ nhiễm virus trong 3 tháng đầu của thai kỳ.
- Bố hoặc mẹ tiếp xúc với tia xạ, dioxin, hóa chất độc.
- Mẹ có tiền sử sảy thai hay gia đình có người tâm thần, dị tật.
- Bố/mẹ bị dị tật bẩm sinh hay tiền sử tiểu đường, cao huyết áp, thủy đậu.

Bác sĩ Cường khẳng định, không phải phòng khám nào có máy và bác sĩ siêu âm cũng có thể chẩn đoán dị tật thai nhi. Việc đo khoảng sáng sau gáy hay siêu âm hình thái đều phải được đào tạo chuyên môn riêng. Trong khi đó, các trường y ở Việt Nam hiện chưa có môn này.

Hiện nay các cơ sở chuyên về sản khoa hay trung tâm khám bệnh lớn thường có bác sĩ có chuyên môn về siêu âm chẩn đoán dị tật thai nhi. Còn những cơ sở y tế khác, đặc biệt là các tỉnh, rất ít bác sĩ đủ khả năng trong lĩnh vực này. Mặt khác, để siêu âm hình thái thai nhi, thời gian thực hiện ít nhất phải là 10-15 phút để rà soát hết các cơ quan. Trong khi đó, các phòng siêu âm thông thường hiện nay chỉ làm trong 5-6 phút, đo các chỉ số cơ bản như cân nặng, tim thai, chiều dài xương đùi, kích thước lưỡng đỉnh, ngày dự sinh...

Đó là nguyên nhân khiến khá nhiều trẻ dị tật nặng vẫn được sinh ra, nhất là tại các địa phương mà hệ thống y tế chưa phát triển. Nhiều bà mẹ mặc dù đi khám và siêu âm nhiều lần khi mang thai nhưng đến tận khi con ra đời mới biết trẻ có tật khó sống. Trường hợp hai bé sinh đôi có chung một thân mình, tim, cột sống và cơ quan sinh dục ra đời ở Hải Dương (đã tử vong cuối tháng 5) là một ví dụ.
(Theo Vnexpress)
-->đọc tiếp...

| 1 tin nhắn ]

Nhiều người cho rằng việc siêu âm thai từ tuần thứ 12 trở đi sẽ giúp phát hiện mọi bất thường. Điều này không đúng. Một số rối loạn chỉ có thể phát hiện qua xét nghiệm huyết thanh hoặc nước ối.

Sau đây là lời giải đáp cho những câu hỏi thường gặp về siêu âm thai:

Có thể sử dụng siêu âm ngay từ khi có thai để theo dõi thai nhi?

Sai: Siêu âm có thể được thực hiện sớm nhất từ tuần lễ thứ 5 của thai kỳ. Nó sử dụng một loại sóng phản hồi nhằm cung cấp hình ảnh của thai nhi và bánh nhau trong tử cung người mẹ. Siêu âm là phương tiện an toàn nhất có thể cung cấp thông tin về thai nhi trong bụng mẹ như: Thế nằm của thai, thai bình thường hay bất thường, sự phát triển của thai, kích thước của thai...

Các tình trạng thai nhi đều có thể biết được qua siêu âm?

Đúng: Siêu âm ở mỗi giai đoạn của thai kỳ giúp bác sĩ sản khoa và thai phụ nắm được quá trình phát triển của thai nhi. Siêu âm trong 3 tháng đầu thai kỳ sẽ giúp bác sĩ sản khoa tính toán tuổi thai và ngày dự sinh, sai biệt chỉ có 3 ngày. Nó cũng giúp chẩn đoán thai nằm trong hay ngoài tử cung, nằm cao hay thấp. Qua siêu âm, bác sĩ biết được có bao nhiêu thai, cùng trứng hay khác trứng, thai sống hay đã ngừng phát triển...

Từ tuần thai thứ 12 trở đi, siêu âm giúp biết được tất cả các bất thường của thai nhi?

Sai: Siêu âm trong 3 tháng giữa thai kỳ rất quan trọng, giúp các bác sĩ sản khoa khảo sát xem thai có bất thường hay không, cụ thể là các bất thường về hình dạng, cấu trúc của cơ thể hoặc các cơ quan nội tạng thai nhi, đánh giá vị trí và tình trạng nhau thai cũng như lượng nước ối. Tuy nhiên, các bất thường thuộc loại chức năng hoặc do rối loạn nhiễm sắc thể (nhưng không biểu hiện ra ngoài) thì không thể phát hiện được qua siêu âm, mà cần xét nghiệm định lượng nội tiết trong huyết thanh, hoặc lấy nước ối thai nhi để khảo sát.

Xác định tình trạng của thai nhi trước khi sinh rất quan trọng cho cuộc sinh của sản phụ?

Đúng: Việc siêu âm tiền sản giúp xác định tư thế nằm của thai nhi có thuận lợi cho cuộc sinh sắp đến hay không (ngôi thuận hay ngôi ngược). Nó đặc biệt cần thiết trong những trường hợp mẹ có bệnh nội khoa đặc biệt, hoặc thai chậm tăng trưởng nặng trong tử cung.

Siêu âm nhiều lần sẽ có tác hại cho thai nhi?

Sai: Siêu âm phải được thực hiện tối thiểu 3 lần đối với những thai kỳ bình thường; và không có khuyến cáo về số lần tối đa. Cho đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu nào chứng minh được siêu âm có hại. Vì vậy, đây vẫn được coi là một xét nghiệm an toàn và dường như không đem lại nguy cơ nào cả.

Tuy tác hại lâu dài của siêu âm trong tiền sản đối với thai nhi chưa được xác định nhưng các nhà chuyên môn vẫn khuyên rằng, không nên sử dụng siêu âm tiền sản ngoài mục đích y khoa (để biết sinh trai hay gái, hoặc để xem hình dạng đứa bé ra sao).

(Theo Người Lao Động)
-->đọc tiếp...

/
Chào các bạn, bạn đã vào trang Benhtimmach.com chưa, đây là trang tư vấn sức khoẻ miễn phí chuyên sâu về lĩnh vực tim mạch click here