Chào các bạn, mời bạn quảng cáo banner tại đây kích thước 500x70 - giá mềm 700.000/tháng. liên hệ suckhoegd@gmail.com. Mr.Cường



| 0 tin nhắn ]

Ngày 8-5, ông Nguyễn Danh Sinh - giám đốc Trung tâm nuôi trồng, nghiên cứu và chế biến dược liệu Quân khu 9 (trại rắn Đồng Tâm, Tiền Giang) - cho biết từ đầu năm đến nay trung tâm đã tiếp nhận cấp cứu, điều trị cho hơn 200 trường hợp bị rắn cắn. Hầu hết nạn nhân ở tỉnh Tiền Giang và Bến Tre.

Trong những tháng mưa lũ sắp tới, số nạn nhân bị rắn cắn sẽ tăng cao hơn nhiều. Trung bình mỗi năm trung tâm điều trị khoảng 500 trường hợp và 60% trong số này bị rắn độc (chủ yếu là rắn hổ, rắn lục đầu vồ, rắn chàm quạp) cắn. Theo phó giám đốc trung tâm Trần Văn Hoàng, mặc dù hiện chưa có số liệu chính xác nhưng ước tính có 2.000-3.000 người ở ĐBSCL bị rắn độc cắn mỗi năm.

Từ năm 2004 đến nay, nhờ có huyết thanh kháng nọc rắn hổ đất (Naja kaouthia) và rắn lục tre (Trimeresurus albolabris) do Viện Văcxin Nha Trang sản xuất từ nguồn nọc rắn lấy từ trại rắn Đồng Tâm nên tất cả nạn nhân bị rắn độc cắn đến trung tâm đều được cứu sống. Theo ông Sinh, ngoài trại rắn Đồng Tâm chuyên điều trị rắn độc cắn, các bệnh viện đa khoa cấp tỉnh ĐBSCL và Bệnh viện 121 Quân khu 9 (Cần Thơ) cũng điều trị rắn độc cắn với hai loại huyết thanh của Viện Văcxin Nha Trang. Tới đây viện này sẽ tiếp tục sản xuất huyết thanh kháng nọc rắn chàm quạp để cứu nạn nhân bị rắn này cắn (nọc rắn chàm quạp độc hơn nọc rắn lục đầu vồ).

(Vndoc.com - Theo TT)

VNDOC.COM - BS MANH HA

VNDOC.COM - có bài mới: 1. Đàn ông bị yếu sinh lý, nguyên nhân và cách khắc phục 2. Khi Ô sin không đi khám bệnh 3. Về miền tây ăn bún cá, món bổ rẻ, có lợi cho sức khỏe.. Chú ý vào trang web bằng trình duyệt Opera nhanh hơn IE nhiều !!!


My World Visitor Profile Map
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




SONG KHOE - BS MANH HA (Click here)


Nhiều khi sinh bệnh chỉ vì thực khách không biết vì lý do nào đó bỗng dị ứng với thực phẩm! Vì con số nạn nhân tăng vọt nên nhiều thầy thuốc đã xếp tình trạng bệnh lý này vào nhóm "bệnh thời đại". 

Không đáng lo sao được khi theo thống kê ở châu Âu có đến 2% người dân đang nay đau mai ốm vì không dung nạp loại thực phẩm nào đó. Mới nghe con số 1-2% cứ tưởng không đáng kể. Lầm to! Nếu tỉ lệ mắc bệnh ở xứ mình cũng tròm trèm như thế thì đâu phải vài chục ngàn mà cả triệu người đang dị ứng với thực phẩm! 

Tưởng dễ mà khó

Dị ứng thực phẩm không phải lúc nào cũng đen trắng rõ ràng theo kiểu vừa nuốt vào thì nổi mẩn, ngứa ngáy muốn phát điên, hay da niêm viêm tấy lở loét, hay rối loạn tiêu hóa để nạn nhân có thể nghi ngờ đầu vào của căn bệnh. Trong nhiều trường hợp, nhất là khi hiện tượng dị ứng tái phát nhiều lần, gia chủ có thể ngộp thở vì hen suyễn, nhức đầu lăn lộn vì mạch máu co thắt thái quá mà không ngờ là do thức ăn. 

Phức tạp hơn nhiều khi triệu chứng không liên quan đến đường tiêu hóa, cũng không biểu lộ ngoài da mà mơ hồ hơn nhiều, chẳng hạn dưới dạng mất ngủ hoặc hồi hộp, tức ngực với huyết áp dao động khiến thầy thuốc không nghĩ đến nguyên nhân dị ứng mà cắm cúi tìm bệnh nào khác trầm trọng hơn. Khỏi nói thêm cũng biết hiệu quả điều trị ra sao khi bệnh nhân bị ép uống thuốc tim hay thuốc giảm đau thay vì thuốc chống dị ứng.

Đừng ngứa đâu gãi đó

Nào ai muốn sinh bệnh vì miếng ăn. Nhưng nếu tưởng chỉ có thế thì lầm. Dị ứng với thực phẩm không chỉ là chuyện thèm ăn mà không thể ăn, mà không dám ăn! Đi xa hơn nữa, căn bệnh này nếu không được điều trị đến nơi đến chốn, càng nhanh càng tốt, sớm muộn cũng là nguyên nhân dẫn đến phản ứng sai lệch của hệ miễn nhiễm, hoặc cường điệu với nhiều hậu quả khó lường, hoặc ù lì chịu chết. 

Kiểu nào cũng thế, tình trạng mẫn cảm hay thiểu năng của hệ miễn nhiễm đều là đòn bẩy cho đủ loại bệnh chứng, từ cảm cúm, viêm xoang thông thường bước qua thấp khớp, hen suyễn thậm chí cho đến ung thư!

Phát hiện và điều trị dị ứng thực phẩm ngay từ trong trứng nước chính là biện pháp mang ý nghĩa dự phòng nhiều bệnh chứng khác nghiêm trọng hơn xa tình trạng dị ứng ban đầu. Nếu dạy con từ thuở còn thơ thì chữa dị ứng thực phẩm cũng thế, cần trị bệnh ngay khi vừa mới... ngứa, cho dù thường khi có thể áp dụng bài thuốc kinh nghiệm dân gian. 

Đó là ngày gãi ba lần sau mỗi bữa ăn!

Hơn thế nữa, nếu tưởng chỉ thức ăn thuộc loại "độc" như tôm cá, mắm muối mới gây dị ứng thì hố nặng. Danh sách các món gây dị ứng càng lúc càng dài, càng lúc càng được che giấu khéo léo với bàn tay tiếp hơi của công nghệ thực phẩm. Nhiều người không ngờ là sữa, bột mì, trứng, đậu phộng, đậu nành, trái cây sấy khô, khoai lang, thịt xông khói, men bia, sôcôla, thậm chí mật ong nếu ong thợ hút phải nhụy hoa bị phun hóa chất... đều là chất dễ gây dị ứng. 

Chưa xong, thêm vào đó là thành phần phụ gia và phẩm màu, đặc biệt là E 102, E 110 và E 123. Khổ cho người tiêu dùng ở chỗ liệu có mấy người để ý đến mã số của chất phụ gia khi đi chợ! Khó hơn nữa là làm gì có nhà sản xuất nào dại dột đề cập khe hở của sản phẩm. 

Tưởng khó mà dễ

Nhưng nói thế không có nghĩa là phải vội vã kiêng hết. Sợ quá cũng chẳng ích gì. Có bệnh đằng nào cũng có thuốc. Đúng thuốc đáng tiền hay không là chuyện hạ hồi phân giải. Hơn nữa, có muốn tránh cũng không được vì chất sinh dị ứng trong thực phẩm biến hóa khôn lường. 

Cách tốt nhất là tìm cách tầm soát tình trạng dị ứng thực phẩm nếu phát hiện triệu chứng nghi ngờ càng sớm càng tốt. May cho người tiêu dùng là biện pháp chẩn đoán đặc hiệu bằng cách xét nghiệm máu hay thử phản ứng ngoài da đều không quá phức tạp. 

Thêm vào đó, thay vì hấp tấp uống thuốc chống dị ứng, vì dù sao đó chỉ là biện pháp chữa cháy cầm canh, giải pháp tương đối đơn giản và ít tốn kém cho người bị dị ứng là ngưng ngay món ăn có vẻ nghi ngờ. Nếu đúng "thủ phạm" thì bệnh thuyên giảm thấy rõ trong thời gian rất ngắn. Gia chủ từ đó nên ghi loại thực phẩm không hợp vào "sổ đen" để tìm cách tránh xa mỗi khi phải đối diện với kẻ ngoại thù trên bàn ăn.

Bên cạnh đó, không đến độ nhiêu khê trăm bề để giải quyết tình trạng dị ứng thực phẩm nếu đừng quên vài điểm quan trọng:

- Không quá khó để thay thế thực phẩm gây dị ứng bằng món ăn khác. Thí dụ thay sữa ở người có cơ tạng không dung nạp sữa bằng sữa chua. 

- Dị ứng thực phẩm có thể là nguyên nhân hay hậu quả trong nhiều bệnh chứng. Có qua có lại mới toại lòng nhau dù là bệnh nhân phải trả tiền. Người bệnh vì thế nhớ quan sát phản ứng của cơ thể liên quan đến chuyện ăn uống để mách nước cho... thầy thuốc! 

- Ngoại trừ trường hợp cơ địa bẩm sinh, dị ứng thực phẩm thường khi chỉ là phản ứng biểu lộ của trục trặc nào đó nằm sâu hơn lớp da, nằm ngoài trục tiêu hóa. Thuốc trị dị ứng vì thế không là giải pháp duy nhất. Trái lại, hiệu năng của liệu pháp rõ ràng được cải thiện nếu thầy thuốc đừng quên vai trò giải độc của lá gan, trái thận, khung ruột... và thậm chí yếu tố tâm lý trong nhiều trường hợp người bệnh bất ngờ không dung nạp món ăn trước đó chưa hề gây dị ứng.

(VNDOC 's Blog - Theo TT)


My World Visitor Profile Map
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Vị trí bị vết đỏ dị ứng như chàm bội nhiễm ở người sử dụng điện thoại có chứa chất nickel (trái) - Ảnh: CMAJ

Các nhà khoa học Đan Mạch và Mỹ khuyến cáo người sử dụng ĐTDĐ nên cẩn thận với những mẫu "dế" có mạ chất nickel (chất kền) ở các bộ phận như tai nghe, đường viền quanh màn hình, logo của hãng sản xuất... và vỏ máy. Họ khẳng định chúng có thể gây ra các chứng dị ứng da ở vùng mặt.

Trong tuần đầu tháng 1-2008, các nhà nghiên cứu thuộc Trường ĐH Brown (Mỹ) đã phát hiện 10 trường hợp sử dụng các mẫu ĐTDĐ có mạ chất kền bị các chứng dị ứng như nổi mẫn đỏ, viêm da, chàm bội nhiễm ở vùng mặt và tai, hai nơi thường cọ sát với các bộ phận có mạ chất nickel như tai nghe, màn hình...

Trong khi đó các nhà khoa học Đan Mạch thuộc trung tâm nghiên cứu dị ứng Đan Mạch đã tiến hành kiểm tra ngẫu nhiên trên 41 mẫu điện thoại thì hết 10 mẫu có các bộ phận được mạ chất kền. 

Họ phát hiện những người thường xuyên sử dụng các mẫu điện thoại trên cũng bị các triệu chứng dị ứng tương tự. Trong khi những người sử dụng các mẫu không có chứa chất kền thì bình an vô sự.

Để kiểm chứng hiện tượng này, các nhà khoa học đã cho số người bị dị ứng trên sử dụng một loại điện thoại khác không liên quan đến chất kền, kết quả chỉ sau vài ngày, các vết dị ứng biến mất và chúng lại xuất hiện ngay khi những người này sử dụng lại mẫu điện thoại có mạ chất kền trên.
(VNDOC 's Blog - Theo báo Tuổi Trẻ)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Lạm dụng thuốc, sử dụng thuốc tùy tiện hoặc không đúng chỉ định có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Dị ứng thuốc là một trong những hậu quả đó.

Tại khoa bệnh nhiệt đới Bệnh viện (BV) Chợ Rẫy ngày 8-12-2006 có đến sáu trường hợp dị ứng thuốc, trong đó có những ca bị hội chứng Stevens - Johnson nặng, rất thương tâm. 

Chị T.N.T., 28 tuổi, ngụ Thốt Nốt, Cần Thơ, trong tình trạng bong tróc da toàn thân và đang bong tiếp da đầu. Chị đang có thai tám tuần, bị cảm sốt nên đến phòng mạch của một bác sĩ (BS) sản khoa, BS này chích cho chị một mũi và đưa thuốc uống ba lần trong ngày. Ngay sau đó chị bị tê, ngứa và nổi mẩn đỏ quanh môi. Hôm sau chị báo BS nhưng BS bảo không sao, vẫn chích và đưa thuốc uống hai lần trong ngày. Về nhà, chị nổi mẩn đỏ càng nhiều, phải vô BV huyện. Sau đó, chị bị bóng nước lan khắp người, gia đình xin chuyển lên BV Chợ Rẫy. Mấy ngày sau chị bị sẩy thai.

Ông T.V.D., 64 tuổi, ngụ Tân Biên, Tây Ninh, bị cảm, ra nhà thuốc tự mua kháng sinh uống, không nhớ thuốc gì, bị nổi mẩn đỏ toàn thân, vào BV Da liễu tỉnh điều trị không giảm, chuyển BV Chợ Rẫy từ 20-11-2006. Ông T.V.D. bị bong tróc da toàn thân... 

Thuốc nào cũng có thể gây phản ứng

Đề cập đến những trường hợp bị dị ứng thuốc, TS BS Trần Quang Bính - trưởng khoa bệnh nhiệt đới BV Chợ Rẫy - cho biết phản ứng thuốc có rất nhiều dạng: nặng như choáng phản vệ có thể gây chết người, phản ứng trên da, niêm mạc, hệ hô hấp, tim mạch, gây rối loạn đông máu… Một số thuốc có ảnh hưởng trên thai kỳ như gây dị dạng thai. 

Theo ông Trần Quang Bính, một số thuốc nhỏ mắt có chứa sulfamid cũng có thể gây hội chứng Stevens - Johnson, thậm chí có thể gây choáng phản vệ. Nói chung, tất cả các thuốc đều có khả năng gây ra phản ứng có hại. Đứng đầu bảng phải nói đến kháng sinh: phản ứng nặng choáng phản vệ, nhẹ là bong tróc da toàn thân. Một số thuốc như thuốc điều trị hansen (DDS), thuốc điều trị tiểu đường có gốc là sulfamic, thuốc điều trị đau khớp, thần kinh (thuốc kháng động kinh), một số thuốc điều trị bệnh gout... cũng có thể gây ra những hội chứng Stevens - Johnson, Lyell. 

Một số thuốc ảnh hưởng trên hệ tim mạch như thuốc tê Novocain, Lydocain, vitamin C chích, vitamin B1 chích... có thể gây choáng phản vệ. Ngay cả Aspirin uống cũng có thể gây choáng phản vệ. Có thuốc dùng nhiều lần trước đó không việc gì nhưng sau lại bị phản ứng. Các thuốc như streptomycin, kanamycin, gentamcin, thuốc thuộc nhóm amino glycosid... uống hoặc chích lâu dài có thể ảnh hưởng trên thận (gây suy thận) và hệ thần kinh số 8 (gây rối loạn tiền đình, chóng mặt)... 

Một số thuốc ảnh hưởng trên hệ tiêu hóa như thuốc kháng viêm steroid và kháng viêm không steroid gây loét dạ dày. Có người chỉ dùng một viên Aspirin phải cấp cứu vì thủng dạ dày. Một số thuốc có thể ảnh hưởng trên gan gây viêm gan do thuốc như thuốc điều trị lao. Có thuốc ảnh hưởng đến cơ quan tạo máu gây suy tủy không hồi phục như tifomycin, cloramphenicol… Thậm chí trong y văn thế giới đã ghi nhận trường hợp dùng thuốc nhỏ mắt có cloramphenicol cũng gây ra suy tủy dù tỉ lệ rất thấp - 1/100.000 đến 1/1.000.000.   

Cách nào để bệnh nhân biết mình bị phản ứng thuốc? 

BS Trần Quang Bính cho biết dị ứng thuốc chia làm ba loại. Phản ứng tức thì, nặng nhất là phản ứng phản vệ mà biểu hiện lâm sàng thường gặp là sốc phản vệ - bệnh nhân hốt hoảng, lo lắng, vã mồ hôi, tay chân lạnh, khó thở, mạch nhanh, huyết áp tụt, ngưng tim, nếu cấp cứu không kịp thời có thể tử vong trong vòng một vài phút. Nhẹ hơn thì có thể phản ứng trên da: ngứa, nổi mẩn đỏ da (có thể khu trú tại chỗ hoặc lan ra toàn thân). Phản ứng chậm hơn ở ngoài da sau vài giờ đến vài ngày như hội chứng Stevens - Johnson, hội chứng Lyell - bong da, tróc niêm mạc toàn thân, bệnh nhân cũng có thể tử vong sau đó vì nhiễm trùng da và nhiễm trùng huyết. Sau khi dùng thuốc, nếu bị các triệu chứng kể trên thì nên đến BV ngay và thông báo cho BS biết các thuốc mình đã sử dụng thật đầy đủ.

Có nhiều triệu chứng mà người bệnh không thể nào biết như uống thuốc xong bị rối loạn tiền đình, suy thận, mất tế bào máu...   

BS Trần Quang Bính nhấn mạnh: các biện pháp dân gian như uống nước đậu xanh để dã thuốc, uống nước chanh, lòng trắng trứng... đều chưa có cơ sở khoa học để chứng minh.   

Tóm lại, khi sử dụng thuốc cần phải tuân thủ đúng chỉ định. Khi đi khám, bệnh nhân nên thông báo với BS các thuốc mình đã bị dị ứng hay phản ứng trước đó (nếu biết). Không nên lạm dụng thuốc và đặc biệt không tự mua thuốc để điều trị, nhất là kháng sinh và một số thuốc chuyên khoa đặc trị, kể cả thuốc nhỏ mắt có chứa kháng sinh cũng phải tuân theo chỉ định của thầy thuốc chuyên khoa.
(Theo Tuổi Trẻ)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Dị ứng là sự gia tăng nhạy cảm với một chất (dị ứng nguyên) mà chất này được xem như có hại. Đáp ứng của cơ thể có thể nhẹ nhưng kích thích hoặc nặng, nhanh và đe dọa tính mạng. Đáp ứng thường nhất là phản vệ mà có thể gây ra chock phản vệ, nếu không điều trị, có thể dẫn tới tử vong. Số lượng người bị dị ứng đang gia tăng ở các quốc gia đã phát triển.

Những dấu hiệu và triệu chứng:

- Ngứa da

- Hồng ban

- Mặt đỏ, chảy nước mắt

- Nhảy mũi

- Mặt phừng, ấm

- Chóng mặt

- Khó thở

- Phù nề, đặc biệt ở mắt, lưỡi và mặt

- Buồn nôn

- Nôn ói

- Đau và vọp bẽ

- Gia tăng khó thở

- Người bị sẽ gia tăng đau đầu và u ám

- Ngưng thở

Giúp nạn nhân uống thuốc nếu được và gọi xe cứu thương

Dị ứng thường cũng gây ra đối ứng với làm khởi kích cơn hen phế quản và chàm da.

Điều trị những phản ứng quá mức:
Đối với những phản ứng quá mức ảnh hưởng tới nhịp thở, gọi xe cứu thương và giúp nạn nhân uống thuốc nếu có thể được.
Theo dõi đường thở và nhịp thở và chuẩn bị hồi sinhnếu cần. Xem phần shock phản vệ

Những bằng chứng mà một người có thể bị:

Phản vệ:

- Mang theo bút tự tiêm

- Bác sĩ cảnh báo vòng đeo tay hay vòng cổ (dây chuyền)

- Thẻ y tế

- Thuốc như adrenaline

Chế độ điều trị thuốc đối kháng: Vàiphản ứng dị ứng có thể dễ điều trị với thuốc đối kháng chứa antihistamin, làm dãn mạch máu và thư dãn cơ. Cần có sự trợ giúp về thuốc từ dược sĩ.

Điều trị những phản ứng nhẹ.

-Những phản ứng nhẹ thường gây kích thích da, sưng nhẹ và nổi hồng ban. Vài phản ứng dưới dạng kích thích đỏ mắt và nhảy mũi. Nếu người bị cho thấy có dấu hiệu của khó thở và suy giảm tri giác, phải cho rằng phản ứng đó nặng và gọi ngay sự trợ giúp y tế lập tức.

-Những dị ứng nguyên thường gây ra phản ứng nhẹ bao gồm côn trùng cắn hoặc đốt, cỏ dài, hoa hoặc lông dài của thú vật.

◦ Hồng ban ở da xảy ra do phản ứng dị ứng thường làm ngừa. Thuốc rửa calamine và uống antihistamine có thể giúp giảm triệu chứng.

◦ Chườm băng ép lạnh để giảm ngứa.

DÙNG DỤNG CỤ TỰ NHIÊN

Nếu bạn đã được huấn luyện để làm điều đó, bạn có thể giúp một người nào đó tiêm thuốc của chính người đó. Đảm bảo rằng thuốc đó là của nạn nhân. Giúp nạn nhân bọc lộ vùng da và mở nắp của ống kim tiêm. Để ống tiêm trên da và giúp nạn nhân đẩy thuốc vào cơ thể.
Hãy để ý và phát hiện ra nếu người đó có tiền sử phản ứng dị ứng.
Đưa băng ép lạnh hoặc thuốc rửa calamine nếu có hồng ban hoặc ngứa da.
Cố gắng xác định nguồn gốc của dị ứng để có thể tránh. Phản ứng có thể trở nên nặng hơn nếu người đó tiếp xúc với cùng loại kháng nguyên trong tương lai.
cần sự trợ giúp của nhân viên y tế do test có thể cần để xác định loại kháng nguyên

Viêm mũi dị ứng, cảm mạo và mề đay

Nếu một người đã từng bị phản ứng dị ứng sau khi hít phải một chất khí trên không đặc biệt, màng niêm mạc mũi, họng và các xoang trở nên bị viêm, tình trạng này gọi là viêm mũi dị ứng. Điều này làm gia tăng tạo nhày và gây ra sung huyết xoang. Triệu chứng có thể bao gồm nghẹt hay chảy nước mũi, ngứa, đỏ, chảy nước mắt, hắc hơi, buồn ngủ và viêm họng. Tùy thuộc vào dị ứng nguyên, triệu chứng có thể xảy ra quanh năm hay theo mùa, lúc đó những rối loạn này được gọi là cảm mạo. Mề đay, còn được gọi là chứng ban phát, là một ban ngứa dữ dội thường xảy ra do một phản ứng dị ứng. Ban bao gồm mảng trắng và đỏ, vùng bị viêm có thể ảnh hưởng toàn bộ cơ thể, và thường biến mất sau một vài giờ. D(iều trị tất cả những tình trạng này tùy thuộc vào sử dụng kháng histamine và tránh dị ứng nguyên khi có thể.
(Theo BSGĐ)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Để chữa dị ứng mẩn ngứa, bạn có thể chọn một trong những vị sau sắc uống: cây đơn kim 15 g, lá đơn tía (đơn lá đỏ) 15 g, cây đơn nem 10 g hoặc lá đơn tướng quân 15 g.

Theo y học hiện đại, dị ứng là một phản ứng không bình thường của cơ thể khi có sự xâm nhập của một chất lạ, thường gọi là “dị nguyên”. Dị nguyên có thể là bụi, phấn hoa, những lông nhỏ trên cành, lá của một vài loại thực vật, các protein, dịch tiết các loại côn trùng, hóa chất... Khi bị xâm nhập, lập tức trong cơ thể xuất hiện phản ứng kháng nguyên - kháng thể và một chất trung gian sinh học histamin được phóng thích khỏi các tế bào dưới dạng tự do. Chính chất này đã gây nên hiện tượng dị ứng làm mẩn ngứa, nổi mề đay, ban đỏ, phù nề, hắt hơi, sổ mũi, co thắt phế quản, khó thở, đôi khi làm giãn mạch, tụt huyết áp...

Sự xâm nhập của các dị nguyên có thể theo nhiều đường khác nhau như đường hô hấp (do hít phải), đường tiêu hóa (do ăn uống), đường máu (do tiêm chích, côn trùng đốt) và phần nhiều qua đường da do tiếp xúc.

Trong Đông y, dị ứng thuộc phạm vi chứng phong sang. Phong ngứa là từ dân gian quen gọi chỉ hiện tượng dị ứng. Về nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh, ngoài sự xâm nhập của các chất lạ vào trong cơ thể còn do nhiễm ngoại tà hoặc thời khí ôn dịch làm cho cơ thể bị phong nhiệt, phong hàn, phong thấp, phong thấp nhiệt... mà gây ra uất kết ở da, bắp thịt. Mặt khác, do quá trình chuyển hóa, hoạt động của các tạng phủ thiếu điều độ, chẳng hạn can, phế, vị nhiệt, tỳ thấp quá thịnh, âm huyết bất túc, huyết hư, huyết trệ mà sinh phong ngứa.

Để điều trị dị ứng, điều quan trọng là xác định được nguyên nhân và loại trừ “dị nguyên”. Có rất nhiều bài thuốc chữa dị ứng:

- Gặp mưa, lạnh, người nổi ban đỏ, ngứa ngáy khó chịu, dân gian thường gọi bị “lất”: Cần vào chỗ ấm tránh mưa lạnh. Dùng một miếng vải vó cũ cho vào chảo rang lên cho nóng chừng 40-45 độ C rồi chườm vào vùng bị lất. Có thể lấy 3 lát gừng tươi, giã nát thêm ít nước sôi và một chút đường cho uống để tăng tác dụng ôn trung.

- Rễ chàm mèo 12 g, kim ngân hoa 10 g, đại hoàng 9 g, hoàng bá 8 g, cam thảo 5 g, hoặc phù bình 6 g, thuyền thoái 3 g; phòng phong, kim ngân hoa mỗi thứ 5 g. Sắc uống.

- Dị ứng mẩn ngứa do ăn phải các chất lạ, đặc biệt các protein lạ như các loại hải sản, nhộng tằm: Dùng kinh giới 25 g, sao vàng sắc uống, kết hợp lấy một ít lá kinh giới sao với cám rồi xát nhẹ lên vùng da bị ngứa, ngày 2-3 lần cho đến khi khỏi. Nếu mẩn ngứa do tuần hoàn huyết dịch trì trệ, thêm chỉ xác 12 g sắc với kinh giới; hoặc dùng lá đơn tướng quân 15 g, sài đất, kim ngân hoa mỗi vị 12 g; cỏ nhọ nồi 10 g; núc nác 8 g; thổ phục linh 15 g. Sắc uống. Trường hợp lở ngứa nổi sần do huyết trệ thêm đan bì, xích thược, quy vĩ mỗi thứ 10 g sắc.

- Trường hợp ngứa phát ban do phong nhiệt dùng thương nhĩ tử, địa phu tử mỗi thứ 6 g; hoặc dùng bồ công anh 15 g; cúc hoa, kim ngân hoa mỗi vị 9 g, cam thảo 5 g. Sắc uống ngày một thang. Có thể dùng lá đơn tướng quân 20 g hoặc nhẫn đông đằng, thổ phục linh, thương nhĩ tử mỗi vị 20 g. Sắc uống.

- Nếu huyết nhiệt gây ra mụn nhọt, mẩn ngứa dùng bài Ngũ vị tiêu độc ẩm: Kim ngân hoa 20 g, bồ công anh, cúc hoa, sinh địa, cam thảo đất mỗi thứ 10 g. Sắc uống.
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Nổi mẩn đỏ sau khi uống bia cũng là biểu hiện của dị ứng thực phẩm. Loại dị ứng này có thể chỉ gây khó chịu nhưng cũng có khi rất đáng sợ, đe doạ sinh mạng.

Thường xảy ra trong vòng 1 giờ sau khi ăn; những dấu hiệu và triệu chứng thường gặp nhất của dị ứng đích thực là: nổi mày đay, ngứa hoặc lở loét ở da. Sưng môi, mặt, lưỡi, họng và nhiều vị trí khác của cơ thể. Thở khò khè, xung huyết mũi hoặc rối loạn hô hấp. Đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn hoặc nôn. Chóng mặt, choáng váng hay ngất.

Trường hợp nặng, những phản ứng nói trên còn nghiêm trọng hơn, giống như choáng phản vệ: co thắt đường hô hấp, gồm cả phù nề họng gây rối loạn hô hấp, choáng, tụt huyết áp, mạch nhanh, choáng váng hay mất ý thức.

Dị ứng thực phẩm đích thực bao giờ cũng là đáp ứng của hệ miễn dịch với thành phần của một loại thực phẩm cụ thể. Hệ miễn dịch bài tiết ra kháng thể IgE để chống lại thành phần đó dù chỉ có rất ít trong thực phẩm, và thành phần này làm tiết ra chất histamine và nhiều chất khác để gây ra những dấu hiệu và triệu chứng đe doạ sinh mạng. Chất histamine góp phần gây ra phần lớn các dấu hiệu dị ứng như chảy nước mũi, ngứa mắt, khô miệng, ban đỏ và nổi mày đay, tiêu chảy, khó thở và thậm chí choáng phản vệ.

Đại đa số trường hợp dị ứng thực phẩm là do protein của sữa bò, trứng, lạ, cá...

Nổi mẩn rồi chuyển sang những mụn bọc là bệnh cảnh thường gặp của dị ứng (ví dụ dị ứng với thuốc cũng gây phát ban dạng dát sẩn; dạng mày đay và phù Quinke; hồng ban sắc tố tái phát... ).

Đối với người mẫn cảm, dễ bị dị ứng khi tiếp xúc với chất lạ (kháng nguyên) có thể là thức ăn, đồ uống, bụi bậm, phấn hoa, lông chó, lông mèo, dược phẩm… cơ thể sẽ sản sinh ra chất chống lại chất lạ đó (kháng thể). Cuộc chiến giữa kháng nguyên và kháng thể ở những người mẫn cảm rất mãnh liệt, dẫn đến rối loạn, làm cho các histamin, ở trạng thái tự do, được phóng thích ra nhiều, chẳng hạn như histamin tách khỏi hêparin, từ trong các hạt, nằm trong dưỡng bào, phóng thích ra bên ngoài. Histamin tự do khi được phóng thích, sẽ đến gắn vào các thụ thể của nó.

Histamin có 2 loại thụ thể: thụ thể H1 và thụ thể H2 (H chữ viết tắt của histamin).

Khi histamin tự do, gắn vào thụ thể H1 sẽ gây ra các hiện tượng dị ứng như:

Trên da: gây ngứa ngáy, nổi mẩn, mề đay, phù quincke,…

Trên hệ hô hấp: gây sổ mũi, ngạt mũi, chảy nước mũi, khó thở.

Trên hệ tiêu hoá: gây nôn mửa, co thắt đường tiêu hoá, hen,…

Trên tim mạch: tụt huyết áp,…

Trên mắt: gây viêm kết mạc, đỏ mắt, ngứa mắt,…

Đặc biệt khi histamin tự do phóng thích ra quá nhiều, gắn vào thụ thể H1 có thể dẫn đến dị ứng rất nặng, gọi là sốc phản vệ, nếu không cấp cứu kịp thời, rất dễ tử vong. Còn khi histamin tự do, gắn vào thụ thể H2, nằm ở dạ dày, sẽ làm dạ dày tiết nhiều axít, dễ gây viêm loét dạ dày, tá tràng.

Nên đi khám để có chẩn đoán chính xác hơn về nguyên nhân và được điều trị. Nếu có biểu hiện dị ứng thì cần đi khám ngay. Nếu dị ứng thực phẩm chỉ là sự khó chịu thì dùng thuốc chống histamin để ngăn chặn sự bài tiết histamin của hệ miễn dịch. Bôi kem ngoài da cũng giúp giảm bớt phản ứng miễn dịch.

Phòng bệnh: cần biết loại thực phẩm nào gây dị ứng để tránh.
(Theo Tuổi Trẻ)
-->đọc tiếp...

| 1 tin nhắn ]




Những người có cơ địa dị ứng khi gặp dị nguyên sẽ nhanh chóng nổi mẩn ngứa, khó chịu sau 30 phút đến 1 tiếng. Lời khuyên chung là phải tránh xa những dị nguyên đó nhưng cụ thể là như thế nào nhỉ?

1. Uống dầu cá

Nghiên cứu trên những người bị hen suyễn do dị ứng, các chuyên gia phát hiện ra rằng những người uống dầu cá mỗi ngày kéo dài trong một tháng sẽ giảm lượng leukotriene, chất hoá học gây ra dị ứng.

2. Dùng điều hoà

Máy điều hoà loại bỏ ẩm mốc và lọc các chất gây dị ứng trong không khí. Tuy nhiên, bạn phải lưu ý thường xuyên làm sạch và thay bộ lọc nếu không những chất gây hại sẽ tích tụ và xâm nhập trở lại.

3. Ăn trái cây giàu vitamin C mỗi sáng

Không những làm đẹp da bạn mà vitamin C còn tăng hệ miễn dịch. Cơ thể thiếu C rất dễ bị dị ứng. Khi có triệu chứng dị ứng hãy bổ sung vitamin C ngay.

4. Lau tủ lạnh

Lau tủ lạnh thường xuyên, thực phẩm sẽ được bảo quản lâu hơn và nấm mốc không có môi trường phát triển.

5. Cẩn thận với quần áo lâu ngày không mặc

Quần áo từ mùa thu - đông năm ngoái, trước khi dùng cho năm nay bạn nên giặt là lại vì quần áo sau một thời gian dài không đụng đến đã phát sinh nấm mốc và con bọ, mạt mà mắt thường rất khó phát hiện.

6. Không nên để thú cưng vào phòng ngủ

Dù yêu quý vật nuôi đến mấy thì cũng không nên cho chúng vào phòng ngủ và thoải mái lăn lộn trên giường của bạn vì trên bộ lông của chúng có rất nhiều ve và bọ. Những sinh vật này sẽ nhảy vào chăn gối, nệm của bạn và gây ra những nốt mẩn ngứa. Đó là chưa kể đến những người dị ứng với lông chó, mèo.

7. Dùng thảm, chiếu chất liệu tổng hợp

Thảm hoặc chiếu làm từ nguyên liệu tự nhiên như len, sợi bông, cói… dễ bị xù lông và giữ ẩm. Đây là mầm mống cho bọ, ve, nấm mốc sinh sản. Nên giặt chiếu, thảm hàng tuần và phơi thật khô ngoài nắng.

8. Dọn sạch xác côn trùng

Sau khi diệt gián, ruồi, muỗi, nhện… trong nhà bạn phải dọn sạch ngay nếu không chính nhưng con côn trùng đấy sẽ là nguồn gây dị ứng khi bị phân huỷ.

9. Cởi giày dép trước khi vào nhà

Khuyến khích các thành viên trong gia đình có thói quen để giày, dép ngoài cửa trước khi vào nhà để giảm bụi bẩn, nấm mốc và các chất gây dị ứng khác. Chuẩn bị dép đi riêng trong nhà cho những người không thích đi chân không.

10. Đọc nhãn thực phẩm

Tránh thực phẩm chứa monosodium benzoate (chất phụ gia có nhiều trong các thực phẩm ăn liền) vì những chất này gây ra hàng loạt triệu chứng giống như dị ứng gồm chảy nước mũi, ngạt mũi, hắt hơi, ngứa họng ở những người vốn không có cơ địa dị ứng.
(Theo VNDOC 's blog sưu tầm)
-->đọc tiếp...

| 1 tin nhắn ]




Cơ thể con người thường hay dị ứng với một số thực phẩm khi ăn chúng như: Hải sản (cá biển, sò, tôm, cua, mực…), đậu phộng, đậu nành, hạt điều… Các loại hóa chất bảo quản thực phẩm như: Sodium sulfite, sodium, bisulfite, potassium bisulfite, hàn the (borate sodium)…

Các loại hóa chất tạo mùi, tạo ngọt như: Bột ngọt (monosodium glutamate), aspartame (NutraSweet)… và các loại hóa chất tạo màu như: Tartrazine (màu vàng số 5)…

Khi ăn các loại thực phẩm trên, cơ thể tạo ra kháng thể đặc biệt Immunoglobine E (IgE) để chống lại chất protein lạ, phóng thích ra chất Histamine, chất này gây ra một số triệu chứng như: Nổi mề đay, ngứa, nhức đầu, buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy, chuột rút, khó thở… nếu tình trạng nặng không được điều trị kịp thời có thể bị trụy tim mạch, tử vong.

Dị ứng thực phẩm kéo dài có thể gây ra bệnh hen suyễn. Cần phân biệt với dạng uống sữa không tiêu được gọi là tình trạng không dung nạp thực phẩm (food intolerance) do cơ thể thiếu enzyme để dung nạp lactose trong sữa; những người này có thể dùng sữa chua.

Ngộ độc thực phẩm (Food poisoning):

Mỗi năm tại Mỹ có khoảng 80 triệu ca ngộ độc thực phẩm, gây thiệt hại ngân sách y tế khoảng 7 tỷ USD. Một số loại vi khuẩn gây ngộ độc thức ăn thường có trong cá, thịt, rau củ quả… bảo quản không đúng cách, quá hạn sử dụng… hoặc do người chế biến, dụng cụ chế biến, nguồn nước không hợp vệ sinh cũng có thể gây ra ngộ độc thực phẩm.

Vi khuẩn Staphylococus aureus (Tụ cầu khuẩn vàng): Thường nhiễm qua vết thương, mụn nhọt của người chế biến thực phẩm. Triệu chứng nhiễm độc thức ăn do vi khuẩn này: Nôn mửa, tiêu chảy… nhưng ít khi gây sốt.

Vi khuẩn Salmonella thường có trong: Hải sản, thịt, cá… gây nhiễm trùng đường ruột với các triệu chứng như: Đau bụng, nôn ói, tiêu chảy, sốt…

Vi khuẩn Clostridium botulinum: Là loại vi khuẩn yếm khí thường có trong các loại thực phẩm đóng hộp, tiệt trùng không kỹ, bảo quản không đúng cách. Độc tố vi khuẩn này thường gây ngộ độc thần kinh, mờ mắt, suy hô hấp, trụy tim mạch… nếu không điều trị kịp thời có thể gây tử vong.

Vi khuẩn Vibrio para-haemolyticus: Thường có trong các loại thủy hải sản. Các món hải sản sống thường hay nhiễm vi khuẩn này với các triệu chứng như: Nhức đầu, sốt, đau bụng, nôn, tiêu chảy…

Vi khuẩn Escherichia coli: Gây ra các triệu chứng như: Đau bụng, nôn, tiêu chảy… Dòng E. coli 0157 có thể gây ra xuất huyết đường ruột. Vi khuẩn này có trong phân bệnh nhân lây lan qua nguồn nước.

Vi khuẩn Listeria monocytogenes: Thường tồn tại trong môi trường ôn đới (máy lạnh, tủ lạnh… không đủ độ lạnh). Khi nhiễm vi khuẩn này có triệu chứng giống như cúm.

Vi khuẩn Campylobacter jejuni: Thường có trong protein động vật, nấm… gây đau bụng, tiêu chảy, nôn, vọp bẻ…

Vi khuẩn Bacillus cereus: Thường có trong ngủ cốc lẫn với bùn đất, cát bụi gây tiêu chảy nôn mửa…

Đề phòng ngộ độc thực phẩm: Chọn thực phẩm tươi sống, bảo quản chế biến đúng cách, nấu chín khoảng 1000C trong 10 phút; rau sống, trái cây cần phải rửa bằng nước sạch nhiều lần, ngâm dung dịch nước muối hoặc thuốc tím, rửa lại bằng nước sạch trước khi ăn. Nhân viên chế biến thực phẩm cần phải mang găng tay, đeo khẩu trang, nhân viên phục vụ cần phải tắm rửa, mặc y phục sạch sẽ; họ phải được khám sức khỏe định kỳ (6 tháng/lần). Nên tránh ăn các loại hải sản sống (tôm, mực, cá… thái mỏng, ướp lạnh ăn với mù tạt). Đậy kín các loại thức ăn, không ăn các loại thực phẩm thừa, ôi thiu, quá hạn sử dụng.
(Theo VNDOC 's blog sưu tầm)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Khoảng 2% người trưởng thành, 5% trẻ em và khoảng 30.000 người phải vào cấp cứu mỗi năm vì bị dị ứng với thức ăn.

Dị ứng thức ăn

Dị ứng (DƯ) là phản ứng của cơ thể với “chất lạ”. Những “chất lạ” này chỉ được xem là “lạ” đối với bệnh nhân, còn đối với các người khác thì chúng rất quen thuộc và hoàn toàn không gây khó chịu gì. Nguyên nhân gây DƯ rất đa dạng, như: Thức ăn, phấn hoa, lông chó, mèo, thuốc… và trong số đó dị ứng thức ăn (DƯTĂ) là dạng DƯ phổ biến nhất và thường xuất hiện trong 12 giờ sau khi ăn phải thức ăn gây DƯ. Mỗi người có thể DƯ với một hay nhiều loại thức ăn khác nhau và DƯTĂ có tính di truyền trong gia đình (bố, mẹ, người thân).

Biểu hiện DƯTĂ không phải chỉ ở ngoài da

DƯTĂ có nhiều mức độ, từ nhẹ đến rất nặng. Triệu chứng ngứa luôn luôn hiện diện và đi cùng với các triệu chứng ngoài da khác, như: Đỏ, sưng phù (quanh mắt, mũi, môi- miệng), mụn nước hay bóng nước. Ngoài ra DƯ có thể biểu hiện ở nhiều cơ quan khác như Hô hấp: Hắt hơi, chảy nước mũi - mắt, nặng ngực, khó thở, lên cơn suyễn - Tiêu hóa: Đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn, nôn ói - Thần kinh: Nhức đầu, căng thẳng, mệt mỏi, lo lắng; hoặc DƯ nặng gây sốc phản vệ, tử vong.

Loại thực phẩm thường gây dị ứng (TPTGDƯ)

Các số liệu thống kê đều cho thấy có 8 nhóm TPTGDƯ là: Sữa, trứng, cá (ví dụ như: Cá vược, cá bơn, cá tuyết). Loài giáp xác có vỏ (tôm, cua, sò, ốc), hạt từ cây (quả hạnh, quả óc chó, quả hồ đào), đậu phộng, lúa mì, đậu nành. Chúng là nguyên nhân của 90% các trường hợp DƯTĂ, vì vậy theo luật FALCPA (Mỹ - có hiệu lực từ 1/1/2006) thì tất cả sản phẩm thực phẩm có chứa các loại thực phẩm kể trên, phải in rõ ràng tên thường gọi (hay tên thông dụng) của chúng ở bảng liệt kê các thành phần trên nhãn bao bì để mọi người có thể dễ dàng đọc thấy (ngay cả trẻ em và người già).

Phòng ngừa DƯTĂ

Tự bản thân bệnh nhân phải theo dõi và phát hiện chính xác loại thực phẩm họ bị DƯ, vì không ai khác có thể làm tốt việc này. Cần biết cách phát hiện ra loại thực phẩm họ bị DƯ, trong vô vàn món ăn được chế biến phức tạp hay được ghi bằng những thứ tiếng khác nhau. Lập một kế hoạch ăn uống chỉ gồm những thực phẩm hoàn toàn không gây DƯ. Thời gian tránh TPTGDƯ tối thiểu là 2-3 tháng, rồi sau đó có thể thử dùng lại từ từ nhưng phải thật cẩn thận (không áp dụng ở người bị DƯ nặng). Nếu tiền sử bị DƯ thức ăn trầm trọng (phản ứngCác yếu tố làm tình trạng DƯ nặng thêm phản vệ) thì phải luôn luôn đeo Thẻ thông tin cá nhân cảnh báo Y khoa, nhằm giúp ích khi bị hôn mê.

Mức độ trầm trọng của phản ứng DƯ không tùy thuộc vào số loại thực phẩm bị DƯ (không phải DƯ nhiều loại thực phẩm thì nặng hơn 1 loại). Phản ứng trầm trọng hơn nếu bệnh nhân nhỏ tuổi hoặc kèm với bệnh hen suyễn vì sẽ gây suy hô hấp cấp tính (sưng phù, tăng tiết dịch đường hô hấp và co thắt khí-phế quản). Ngoài ra có thể nặng hơn do: Xông khí dung (mũi), không khí ô nhiễm, thời tiết lạnh, nắng gắt, gió, tắm nước lạnh, khói bụi, hút thuốc lá.

Xử trí DƯTĂ thông thường

Nếu sợ vô tình ăn phải thức ăn gây DƯ khi đi ăn tiệc ở ngoài, thì có thể uống 1 viên thuốc kháng Histamin (Loratadin, Cetirizine) trước đó 1-2 giờ hay ngay sau khi ăn. Khi đã có triệu chứng DƯTĂ rồi thì có thể áp dụng tại nhà các biện pháp “sơ cứu” sau: Tắm hay chườm-đắp nước ấm, uống nhiều nước, thuốc kháng Histamin, rồi nhanh chóng đi khám bác sĩ.

Phản ứng phản vệ (PƯPV) do dị ứng thức ăn

Là 1 phản ứng rất nặng và đe dọa tính mạng bệnh nhân vì ảnh hưởng đồng thời đến nhiều cơ quan quan trọng của cơ thể (hô hấp, tuần hoàn). Thường xảy ra sau khi tiếp xúc (5-15 phút) với thức ăn bị DƯ, mà loại này có thể đã gây DƯ vài lần trước đó (phản ứng DƯ có xu hướng nặng hơn trong những lần sau). Đậu phộng, hạt từ cây, tôm-cua, sữa, trứng, cá là những loại có nguy cơ gây PƯPV cao nhất. Các triệu chứng PƯPV gồm: Nghẹt - khó thở, cảm giác sắp chết, tay chân lạnh, toàn thân nhợt nhạt, toát mồ hôi, huyết áp tụt, thiếp đi hay mất tri giác... Điều trị PƯPV càng sớm và hiệu quả thì cơ hội sống sót của bệnh nhân càng lớn.

Chẩn đoán DƯTĂ

Chế độ ăn hạn chế: Loại bỏ những loại thức ăn bị nghi ngờ gây DƯ ra khỏi thực đơn hàng ngày, nếu không bị DƯ trong 2 tuần thì có thể xác định chúng là nguyên nhân gây DƯ. Để chắc chắn thì nên thử ăn lại loại thực phẩm đó (với lượng ít và không thử ở người bị DƯ nặng), thử nghiệm dương tính nếu xuất hiện các triệu chứng DƯ. Phương pháp này đơn giản nhưng có độ chính xác cao nhất. Vì vậy họ cần phải loại trừ - ăn thử loại thức ăn nào đó (vài lần) để xác định chắc chắn nguyên nhân gây DƯ.

Các xét nghiệm vạch da: Làm trầy xướt da vài đường rất nhỏ, rồi dán 1 miếng nhỏ loại thực phẩm nghi ngờ (đã được nấu chín, sạch) lên trên vùng da bị trầy. Nếu da bị đỏ, sưng và ngứa ở vùng da này (đường kính > 10mm) thì thử nghiệm dương tính. Độ nhạy cảm (dương tính thật) khoảng 44% và độ đặc hiệu (âm tính thật) là 67%.

Xét nghiệm Máu ELISA hay RAST: Là xét nghiệm chất hấp thu miễn dịch liên kết với enzyme để phát hiện loại thực phẩm gây DƯ. Phát hiện nồng độ kháng thể IgE trong máu tăng cao ở những bệnh nhân đang bị nghi ngờ DƯTĂ. Kết quả sẽ nhận được trong 1 tuần. Ngoài ra có thêm nhiều xét nghiệm chuyên biệt hơn (cũng đo IgE/máu) cho từng nhóm thực phẩm gây DƯ. Độ nhạy cảm (dương tính thật) của các xét nghiệm này khoảng 56% và độ đặc hiệu (âm tính thật) là 67%. Xét nghiệm rạch da và thử máu RAST thường dùng ở những người không thể áp dụng chế độ ăn hạn chế, như: DƯTĂ nặng, trẻ em, người cao tuổi.

DƯTĂ tái phát & khó điều trị

Tình trạng DƯ với các loại phấn hoa, trái cây, rau quả đang gia tăng và hiện tượng DƯTĂ bắt đầu xuất hiện sau 20-30 tuổi chưa giải thích được. Nguyên nhân có thể là xuất hiện những chất gây DƯ “mới” trong các loại thực vật quen thuộc và điều này là do cơ chế tự bảo vệ ở thực vật để thích nghi với những thay đổi khắc nghiệt của môi trường, như: Sâu bệnh, đất đai cằn cỗi, nguồn nước ô nhiễm, khí hậu thất thường, điều kiện tồn trữ và do sự biến đổi gen (thực phẩm biến đổi gen). Đôi khi nguyên nhân chính gây DƯ lại là những tác nhân khác nằm trú ẩn trong thực phẩm, như: Sán Anasakis simplex trong cá tuyết, loài ve nhện đỏ trên trái cà chua hay nho.
(Theo Sức khỏe & Đời sống)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Lupus là một từ latin có nghĩa là chó sói, xuất phát từ việc người bệnh thường có ban đỏ đặc trưng ở mặt giống như hình vết cắn của chó sói. Bệnh không khỏi hoàn toàn nhưng có thể kiểm soát nếu được điều trị đúng.

Theo nghiên cứu của khoa Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống chiếm khoảng 1/3 số trường hợp điều trị nội trú với 400-500 người mỗi năm. Bệnh được Hebra mô tả lần đầu vào năm 1845. Đây là một bệnh tự miễn mạn tính, không rõ nguyên nhân, gây tổn thương hầu hết các hệ cơ quan trong cơ thể. Trong trường hợp nặng, nó có thể đe dọa tính mạng người bệnh.

Bình thường, hệ miễn dịch giúp cơ thể chống lại sự xâm nhập của các tác nhân lạ (vi khuẩn, virus...) nhưng trong lupus ban đỏ hệ thống và các bệnh tự miễn khác, hệ miễn dịch mất khả năng phân biệt lạ-quen. Nó quay ra chống lại chính mình bằng cách sinh ra các kháng thể chống lại tế bào của hầu hết các cơ quan. Trong tên của bệnh, lupus có nghĩa là chó sói, vì người bệnh thường có ban đỏ ở mặt giống hình vết cắn của chó sói. Từ "ban đỏ" để chỉ một dấu hiệu phổ biến ở hầu hết các bệnh nhân. Từ "hệ thống" được sử dụng do bệnh gây ảnh hưởng đến hầu hết các cơ quan trong cơ thể.

Nguyên nhân gây bệnh chưa được biết rõ nhưng người ta cho rằng bệnh xuất hiện do sự phối hợp của nhiều yếu tố, gồm di truyền (anh chị em ruột bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 20 lần người thường), môi trường (nhiễm khuẩn, tiếp xúc với hóa chất, ánh nắng mặt trời) và nội tiết (bệnh chủ yếu gặp ở phụ nữ tuổi sinh đẻ và nặng lên khi mang thai).

Các triệu chứng của lupus ban đỏ hệ thống có thể xuất hiện đột ngột hoặc từ từ sau nhiều tháng, nhiều năm. Do bệnh ảnh hưởng đến hầu hết các cơ quan trong cơ thể nên triệu chứng hết sức đa dạng và thường nặng lên vào các tháng mùa đông. Hơn 90% số bệnh nhân đến khám có các biểu hiệu không đặc hiệu như gầy sút, mệt mỏi, sốt nhẹ, rụng tóc, viêm loét miệng, đau các khớp nhỏ, đau mỏi cơ, rối loạn kinh nguyệt. Khoảng 3/4 số bệnh nhân nổi các ban đỏ bất thường trên da, hay gặp nhất là ban cánh bướm ở mặt - dấu hiệu đặc trưng của lupus ban đỏ hệ thống (ban đỏ ở 2 gò má bắc cầu qua sống mũi).

Trong giai đoạn toàn phát của bệnh, có thể xuất hiện các tổn thương nội tạng và thần kinh, mạch máu như tràn dịch màng tim, viêm cơ tim, tràn dịch màng phổi, viêm phổi, viêm cầu thận, co giật, rối loạn tâm thần, thiếu máu, xuất huyết. Các triệu chứng này thường diễn biến thành từng đợt xen kẽ giữa những thời gian lui bệnh. Trong giai đoạn đầu của bệnh, các triệu chứng thường mơ hồ và giống với nhiều bệnh lý khác. Vì vậy, có thể phải mất vài năm kể từ lúc có triệu chứng đầu tiên, bệnh mới được chẩn đoán chính xác.

Lupus ban đỏ hệ thống không thể điều trị khỏi hoàn toàn nhưng có thể kiểm soát được nếu điều trị đúng. Trong giai đoạn nặng của bệnh đang cấp, người bệnh cần được nghỉ ngơi, nhưng vẫn cần một chế độ vận động hợp lý để tránh teo cơ và cứng khớp. Các thuốc chống viêm giảm đau không steroid như aspirin, ibuprofen, naproxen, nimesulide có hiệu quả tốt với các triệu chứng ở cơ và khớp. Thuốc dễ gây viêm loét dạ dày tá tràng nên phải dùng khi no.

Các loại corticosteroid chống viêm mạnh hơn nhóm thuốc trên nhưng cũng nhiều tác dụng phụ hơn, chỉ dùng trong trường hợp bệnh nặng có tổn thương nội tạng. Các tác dụng phụ thường gặp là viêm loét dạ dày tá tràng, tăng đường máu, loãng xương, rạn da, tăng nguy cơ nhiễm trùng, ức chế tuyến thượng thận. Do vậy, nên uống thuốc một lần sau bữa ăn sáng.

Các thuốc chống sốt rét như hydroxychlloroquine, chloroquine có hiệu quả khá tốt với tổn thương ở da và khớp. Thuốc ức chế miễn dịch như azathioprin (Imuran), cyclopphosphamide (Endoxan), cycloporin (Sandimum) có rất nhiều tác dụng phụ nguy hiểm nên chỉ dùng trong những trường hợp nặng không đáp ứng với corticosteroid đơn thuần.

Cho đến nay, chưa có một loại thuốc Đông dược nào chứng minh được hiệu quả rõ rệt trong điều trị lupus ban đỏ hệ thống. Do đó, người bệnh nên hết sức thận trọng khi sử dụng các thuốc này, vì chúng cũng có thể gây ra nhiều tác dụng không mong muốn, thậm chí có thể đe dọa tính mạng bệnh nhân.

Người bị mắc bệnh lupus ban đỏ hệ thống LBĐHT cần có một cuộc sống lành mạnh, năng vận động, tránh bị sang chấn tâm lý. Tia tử ngoại trong ánh nắng mặt trời thường khởi phát hoặc làm nặng các đợt cấp của bệnh, cần tránh tối đa. Việc ngừng thuốc đột ngột, đặc biệt là corticosteroid, cũng là một nguyên nhân dẫn đến đợt cấp của bệnh.

(Theo VNDOC 's Blog sưu tầm)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Khởi phát cấp tính, với triệu chứng sốt cao, mắt đỏ, bong rộp ở miệng, bong da ở đầu ngón tay, chân... Nếu những biểu hiện này xuất hiện ở trẻ dưới 5 tuổi thì rất có khả năng là bệnh kawasaki. Bệnh có thể dẫn đến biến chứng nhồi máu cơ tim, gây đột tử tức thì.

Bác sĩ Vũ Minh Phúc - Trưởng khoa Tim mạch, Bệnh viện Nhi đồng I (TP HCM) - cho biết bệnh kawasaki do một bác sĩ người Nhật có tên Kawasaki tìm ra. Bệnh có ở trẻ dưới 5 tuổi và rất hiếm gặp, bình quân mỗi năm Bệnh viện Nhi đồng I chỉ tiếp nhận khoảng vài chục trường hợp. Bệnh khởi phát cấp tính, với những triệu chứng điển hình là: sốt cao kéo dài; phát ban đỏ khắp cơ thể; hai mắt đỏ, môi đỏ, lưỡi đỏ rực; bong rộp ở miệng; bong rộp ở đầu các ngón tay, ngón chân; nổi hạch ở cổ; có thể kèm theo sưng và đỏ ở lòng bàn tay, bàn chân... Ngoài ra còn có những triệu chứng ít gặp hơn như: rối loạn tiêu hóa (tiêu chảy, ói mửa); trẻ có thể bị đau bụng; vàng da; túi mật to; gan to... Bệnh có thể gây biến chứng lên tim mạch, làm cho tim to, nhịp tim nhanh, suy tim. Nhưng nguy hiểm nhất là biến chứng làm viêm tắc và giãn mạch vành, có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim, gây đột tử tức thì cho trẻ. Ngoài ra, trẻ cũng có thể bị sưng khớp, viêm màng não, hay viêm phổi, viêm ruột. Xét nghiệm cho thấy bạch cầu trong máu tăng cao, siêu âm tim thấy mạch vành bị giãn ra...

Bác sĩ Vũ Minh Phúc cho biết, đến nay, thế giới vẫn chưa tìm ra nguyên nhân gây bệnh kawasaki ở trẻ em. Tuy nhiên, một số giả thuyết cho rằng bệnh kawasaki có liên quan đến tình trạng nhiễm trùng, nhiễm siêu vi ở những trẻ có cơ thể đặc biệt.

Thuốc đắt

Để chữa bệnh kawasaki, cần chống sưng, chống viêm bằng thuốc Aspirin, và truyền gamma globulin liên tục từ 10 đến 12 giờ. Đây là loại thuốc có giá thành tương đối cao, bình quân cứ một kg trọng lượng cơ thể thì tốn 1 triệu đồng thuốc gamma globulin (trẻ 10 kg thì 10 triệu đồng, 20 kg thì 20 triệu đồng). Cũng có một số trường hợp phải sử dụng đến liều gamma globulin thứ hai, hoặc phải dùng đến các thuốc ức chế miễn dịch. Mục đích của việc sử dụng gamma globulin là để ngăn chặn bệnh gây biến chứng lên tim mạch cho trẻ.

Bác sĩ Tăng Chí Thượng - Giám đốc Bệnh viện Nhi đồng I - cho biết, việc sử dụng thuốc gamma globulin cho trẻ mắc bệnh kawasaki được cân nhắc rất kỹ lưỡng, thường phải thông qua Hội đồng Thuốc và điều trị của bệnh viện, sau khi có chẩn đoán bệnh chính xác. Đây là một loại bệnh hiếm, khó chẩn đoán, đòi hỏi bác sĩ phải có kinh nghiệm.

Theo bác sĩ Minh Phúc, quan trọng là phát hiện bệnh và đưa trẻ đến bệnh viện sớm, vì nếu được điều trị trong vòng 10 ngày kể từ khi trẻ mắc bệnh thì mới có thể ngừa được các biến chứng ở tim. Sau 10 ngày thì hiệu quả ngăn ngừa biến chứng sẽ giảm xuống. Nếu bệnh tiến triển tốt, thì khoảng 48 giờ sau điều trị, bệnh sẽ lui dần, trẻ hết sốt và có thể về nhà. Tuy nhiên, một khi trẻ đã mắc bệnh kawasaki thì cần phải được tái khám suốt đời. Đối với những trường hợp bệnh không gây biến chứng, thì sau khi xuất viện về uống thuốc Aspirin trong khoảng 6 tuần thì ngưng. Đối với những trường hợp bệnh gây biến chứng, thì phải được chụp mạch vành để theo dõi dưới sự chỉ định của bác sĩ.

Bác sĩ Minh Phúc lưu ý, đối với những trẻ sử dụng thuốc gamma globulin, cần tạm ngưng tiêm ngừa văcxin phòng bệnh ít nhất là 3 tháng, đặc biệt là những văcxin sống như: sởi, quai bị, rubella, thủy đậu, vì gamma globulin đã làm giảm tác dụng của văcxin.
(Theo Thanh Niên)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

CHƯƠNG 16 : LUPUS DO THUỐC

Một số loại thuốc và chất hoá học có thể gây ra bệnh giống với lupus. Danh sách các loại thuốc này rất dài nhưng loại thuốc gây ra lupus thì không nhiều. Người ta chia ra làm 2 loại phản ứng thuốc.

Thứ nhất, một số loại thuốc có thể làm cho bệnh lupus có sẵn bùng phát trở lại, chẳng hạn như thuốc nhóm sulfamide( một số kháng sinh sử dụng hiện nay như Bactrim). Một số loại thuốc khác có thể gây nổi hồng ban da, đau khớp và những biểu hiện khác như viêm màng phổi tràn dịch, trên thực tế giống với lupus hồng ban rải rác. Những trường hợp này gọi là « lupus do thuốc » . Lupus này giảm và biến mất khi ngưng thuốc. Hồng ban trong lupus do thuốc rất giống với hồng ban do bệnh lupus thật sự. Đó là hồng ban dạng cánh bướm, có thể có rụng tóc. Mặt khác, lupus do thuốc cũng có thể có triệu chứng như lupus hồng ban rải rác cổ điển với những triệu chứng toàn thân khác như: đau khớp viêm màng phổi tràng dịch, nổi hạch, mệt mỏi, và suy tổng trạng. Mặt dù có những triệu chứng giống nhau như vậy, nhưng lupus do thuốc cũng có những triệu chứng khác với lupus kinh điển. Thứ nhất là, bệnh lupus do thuốc rất hiếm khi gây ra tổn thương thận. Thứ hai là, kết quả xét nghiệm máu rất khác nhau. Một cách khái quát, bệnh nhân bị lupus do thuốc chủ yếu tạo ra kháng thể kháng histone, và hầu như hiếm khi có kháng thể kháng AND và kháng thể kháng ENA. Cuối cùng, sự khác biệt quan trọng, là bệnh lupus do thuốc hồi phục hoàn toàn sau khi ngưng thuốc. Ngày nay chúng ta hiểu rất rõ về cơ chế gây ra lupus do thuốc. Điều này được nghiên cứu rất kỹ đối với hydralazine, một loại thuốc trị cao huyết áp. Có 3 điều kiện cần để tạo ra bệnh lupus ở bệnh nhân dùng thuốc này. Thứ nhất là những bệnh nhân này phải có chuyển hoá chậm đối với thuốc, nghĩa là cơ thể không thể thải thuốc này ra ngoài một cách nhanh chóng. Thứ hai, phải là nữ giới thì mới dễ xuất hiện biến chứng này, Thứ ba là, nguồn gốc yếu tố di truyền, nhất là có kháng nguyên HLA-DR4 , là một yếu tố chính. Lupus do hydralazine là một ví dụ điển hình cho bệnh gây ra do tác nhân ngoại sinh, phát triển trên cơ địa di truyền có sẵn. Đặc biệt cần phải nhấn mạnh thêm vai trò của kháng sinh minocycline, là loại kháng sinh dùng rộng rãi trong điều trị mụn, hiện nay là nguyên nhân thường gặp nhất gây lupus do thuốc.

CHƯƠNG 17 : LỊCH SỬ BỆNH LUPUS

Bệnh lupus được phát hiện và mô tả từ ít nhất khoảng 700 năm nay.

Danh từ lupus xuất phát từ tên « loup » đọc trại ra thành lupus(lu-pút), theo tiếng Pháp « loup » có nghĩa là chó sói, từ này đã được sử dụng cho nhiều bệnh da khác nhau, nhất là khi so sánh với vết cắn của những con chó sói trên gương mặt của chúng.

Bệnh này cũng đa dạng như những bệnh ung thư hay những bệnh da khác, vào thời kỳ mà bệnh không thể chữa trị được, nó đã làm cho gương mặt bệnh nhân bị xấu đi nên người ta mới có sự so sánh đầy đủ như vậy. Ngày nay, chúng ta biết rằng, bệnh này được mô tả đầu tiên dưới tên chung « lupus », khác với bệnh lupus hệ thống mà chúng tôi đề cập trong bài này.

Những nhà y học nổi tiếng như Rogerius ở thế kỷ thứ 13 và Paracelse đầu thế kỷ thứ 16, đã cung cấp cho chúng ta những mô tả rất rỏ ràng về những tổn thương trên mặt do bệnh lupus.

Vào đầu thế kỷ thứ 19, có một vài mô tả chính xác hơn giúp chúng ta hiểu rằng những bệnh khác cũng có thể gây ra những tổn thương da « giống bệnh lupus», những mô tả rõ nhất về bệnh lupus là mô tả của Cazenave vào năm 1851-1852, ông cho biết có 3 loại luypus khác nhau, kể cả « lupus hồng ban ».

Khoảng cuối thế kỷ 19, Payne, một bác sĩ của bệnh viện St Thomas, Luân Đôn, đã mô tả hiệu quả của thuốc chống sốt rét không chỉ có trong bệnh lupus da, mà còn có hiệu quả trong những biểu hiện lâm sàng khác của bệnh lupus, kể cả bệnh sốt. Trong 3 bài báo xuất bản vào năm 1895 và 1903, William Osler đã chứng minh rằng các cơ quan nội tạng cũng có thể bị ảnh hưởng bởi bệnh lupus chứ không chỉ có ở da, và bệnh lupus có thể xuất hiện ở dạng toàn thân. Những mô tả này nhấn mạnh ảnh hưởng của lupus trên các cơ quan như tim, thận, và các thanh mạc( màng phổi, màng tim). Ông đã mô tả rất rõ các giai đoạn lui bệnh và giai đoạn bệnh bùng phát. Trong suốt những năm 1930-1940, có nhiều nghiên cứu lâm sàng và giải phẫu bệnh, đa số nghiên cứu này khẳng định rằng lupus dạng đĩa (hình chiếc đĩa) và lupus hệ thống là những dạng riêng biệt.

Vào năm 1948, Hargraves, Richmond và Morton lần đầu tiên mô tả một xét nghiệm sinh học cho bệnh lupus hồng ban rải rác. « Trong 2 năm trở lại đây, chúng ta đã quan sát trong việc chuẩn bị tế bào tuỷ xương, là loại tế bào mà chúng ta gọi là « tế bào LE », nó thường xuất hiện trong trường hợp lupus hồng ban cấp tính rải rác».

Thật ra, tế vào LE là một loại tế bào máu ( bạch cầu trung tính) xuất hiện trong tuỷ xương, và trong máu bệnh nhân bị bệnh lupus, và tế bào này bị kháng thể kháng nhân phá huỷ.

Từ mô tả đầu tiên này, các xét nghiệm khác dần dần thay thế việc tìm tế bào LE. Chính vì vậy, ngày nay người ta dùng kháng thể kháng nhân để phát hiện bệnh này. Các bác sĩ như Kunkel, Tan, Doniach và Holborrow đã có công đóng góp rất lớn trong việc cải thiện các xét nghiệm chẩn đoán.

Năm 1966, nhiều nhóm nghiên cứu khám phá trong máu của người bị bệnh lupus có chứa các kháng thể kháng lại chuỗi ADN. Quan trọng hơn, Pincus, Tan và Christian chứng minh rằng việc định lượng kháng thể kháng ADN trong huyết thanh bệnh nhân bị lupus là một công cụ giúp chẩn đoán bệnh cực kỳ đặc hiệu của bệnh lupus và đặc biệt nhạy cảm với tiến triển của bệnh và với tác dụng của điều trị.

Cuối những năm 60 và đầu những năm 70, có nhiều kháng thể đặc hiệu đã được các bác sĩ Tan, Reichlin và Sharp tìm thấy.Năm 1983, nhóm của tác giả này đã phát hiện có sự hiện diện của kháng thể kháng phospholipides phối hợp với hội chứng lâm sàng rất đặc biệt, rất khác với những biểu hiện viêm kinh điển trong bệnh lupus, đặc trưng bởi huyết khối động mạch và tĩnh mạch cũng như sảy thai liên tiếp. Năm 1993, tên gọi « hội chứng Hughes » đã được đề nghị để mô tả hội chứng kháng phospholipide. Những tiến bộ khác đã diễn ra trong nửa sau thế kỷ 20, nhất là cẩn thận khi sử dụng glucocorticoïdes, sử dụng các thuốc khác có khả năng gây ra ức chế miễn dịch như azathioprine và cyclophosphamide.

Cuối cùng, những tiến bộ khác của y học gián tiếp góp phần vào điều trị bệnh lupus. Vì vậy, từ những loại thuốc tốt nhất sẵn có để điều trị tăng huyết áp, để điều trị suy thận, điều trị loét dạ dày tá tràng hay để điều trị loãng xương chỉ mới có vài tiến bộ gần đây.

CHƯƠNG 18 : NGHIÊN CỨU TRONG BỆNH LUPUS

Nếu như bạn là người phụ trách chương trình nghiên cứu bệnh lupus, vậy bạn bắt đầu bằng câu hỏi nào ? Có thể là bạn sẽ quan tâm về sự chiếm ưu thế của bệnh ở nữ giới. Bệnh có tính di truyền không ? Tại sao lại có những bất thường trong hệ thống miễn dịch như vậy ? Người ta có thể cải thiện điều trị như thế nào ?Tại sao một số bệnh nhân lại bị thận, trong khi một số khác lại bị ở da và một số khác còn có hiện tượng huyết khối ? Nghiên cứu đã mang lại nhiều lý do thoả mãn. Mặt dù là bệnh hiếm, nhưng lupus đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đây cũng là một dạng của bệnh tự miễn. Có nhiều bài báo nói về bệnh lupus, nhất là có tờ báo quốc tế chuyên viết về bệnh Lupus này.

Kết quả nghiên cứu còn nhiều bàn cải trong các hội nghị quốc tế và đã thu hút nhiều nhà lâm sàng và nhà nghiên cứu. Những hội nghị này đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa nhà lâm sàng, bác sĩ miễn dịch học, bác sĩ nội khoa, chuyên khoa khớp, chuyên khoa thận, chuyên sản khoa và nhóm hỗ trợ cho bệnh nhân. Các tóm tắt của những hội nghị này được xuất bản thường xuyên(nhất là trong tạp chí « lupus »). Lâm sàng có nhiều nghi ngờ về bệnh lupus là do ảnh hưởng của hormone. Chúng ta biết rằng, estrogen có tác dụng rất mạnh trên đáp ứng miễn dịch, hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về mối liên quan giữa hormone giới tính và các thụ thể của nó. Có thể những nghiên cứu này mang đến cho chúng ta những thông tin về những bệnh khác mà ở đó hormone giới tính giữ một vai trò quan trọng( chẳng hạn như ung thư vú). Ngày này, hormone không được sử dụng trong đều trị bệnh lupus. Theo thời gian, có những tiến bộ đáng kể về di truyền. Từ 20 năm qua, chúng ta tự giới hạn ở nhóm máu. Ngày này, bản đồ gien của người đã được mô tả chi tiết, từ đó cho phép chúng ta nghiên cứu tường tận các yếu tố di truyền tham gia vào bệnh, nhất là nhờ vào những thông tin thu thập được trong gia đình, mà ở đó có nhiều thành viên mắc bệnh. Có một kiến thức tốt về hoạt động của hệ thống miễn dịch sẽ cung cấp cho chúng ta những ý kiến mới về cơ chế bệnh sinh của lupus, và các biện pháp điều trị mới. Ngày nay chúng ta biết rằng, các tế bào lympho B của bệnh nhân lupus sản xuất ra quá nhiều kháng thể, nhất là kháng thể kháng ADN, có tác dụng gây hại, đặc biệt là cầu thận. Chúng ta cũng biết rằng các tế bào lympho B này được trợ giúp bởi tế bào lympho T (chúng thường kiểm soát hoạt động của tế bào lypho B). Rõ ràng là có kiến thức vững về sự tương tác giữa 2 loại tế bào lympho này cho phép chúng ta hy vọng một ngày nào đó can thiệp một cách đặc hiệu vào những tế bào trực tiếp sản xuất ra kháng thể. Sự phát hiện ra một số biểu hiện lâm sàng của bệnh lupus do huyết khối và do viêm đã mở ra viễn cảnh sinh lý bệnh rất sáng sủa. Có một kiến thức vững chắc về sự tương tác giữa kháng thể kháng phospholipide, tiểu cầu và thành mạch đã tạo ra những tiến bộ đáng kể trong điều trị. Một nghiên cứu có chất lượng đòi hỏi phải có sự hợp tác quốc tế, và dĩ nhiên cần phải có nguồn tài chính mạnh. Kết lụân, việc nghiên cứu về bệnh lupus đang cực kỳ sôi động. Thật ra không có loại thuốc nào là kỳ diệu, nhiều phương pháp điều trị mới hiện nay cũng đang được xem xét.

CHƯƠNG 19 : LUPUS TRÊN THẾ GIỚI

Bản đồ thế giới về bệnh lupus đã được vẽ lại từ 3 thập niên gần đây. Trong những năm 60 bệnh lupus hiếm gặp, thậm chí gần như không còn nữa tại những quốc gia như Anh, và nhiều nước Châu Âu, Châu Phi, Nam Mỹ và Úc. Tình hình này hiện nay bị đảo lộn hoàn toàn, và có nhiều phòng khám lớn chuyên về chữa trị bệnh lupus ở hầu hết các thành phố lớn trên thế giới. Người ta cũng không thể biết trước được tỉ lệ bệnh lupus mới mắc thực sự thay đổi là bao nhiêu vì những nghiên cứu này khó thực hiện được. Tần suất bệnh thay đổi tùy quốc gia, tùy lục địa. Vì vậy một số nước vùng Viễn Đông như Malaysia, Singapore và Indonesia bệnh lupus dường như thường gặp hơn bệnh viêm đa khớp dạng thấp. Ở Việt Nam bệnh lupus khá thường gặp. Vấn đề cũng tương tự như vậy ở những nước vùng Caribé.

Hiện nay bệnh lupus hiện hữu ở nhiều nước. Chúng tôi nhận thấy bệnh này hiện nay thường gặp hơn so với những thập niên trước đây. Nhiều trường hợp đã được chẩn đoán xác định. Tuy nhiên, không có điều gì đảm bảo rằng tỉ lệ bệnh mới thật sự gia tăng trên thế giới. Có thể bệnh có liên quan đến yếu tố môi trường.

CHƯƠNG 20 : MÔ TẢ CHI TIẾT NHỮNG TỔN THƯƠNG DO LUPUS

Da

Nếu như tổn thương hình cánh bướm ở mũi là đặc trưng cho hầu hết những bệnh nhân bị bệnh lupus. Thật ra nó chỉ xuất hiện trong một số ít các trường hợp bị bệnh lupus. Hồng ban cánh bướm ở mũi màu đỏ hồng, gồ lên mặt da, nặng lên khi ra ánh sáng mặt trời. Hồng ban không chỉ ảnh hưởng ở mặt mà còn ở những phần da khác của cơ thể, đặc biệt là ngón tay. Một số tổn thương da hình bóng nước xuất hiện rồi biến mất. Da đầu cũng có thể là ví trí tổn thương của lupus( rụng tóc thành vùng). Ngòai những tổn thương này, còn có 3 loại sang thương khác :

• Lupus dạng đĩa

• Lupus hồng ban bán cấp , thường ở khớp, cổ và cánh tay. Hồng ban này thường thấy ở những người mang kháng thể kháng Ro/SSA. Những tổn thương này rất nhạy cảm với tia cực tím, đáp ứng tốt với điều trị bằng thuốc kháng sốt rét.

• Tổn thương hình lưới : đó là tổn thương dạng bông xuất hiện ở mu bàn tay, chi dưới, đặc biệt gặp ở xương bánh chè(đầu gối). Dấu hiện này khá thường gặp ở những bệnh nhân có hội chứng kháng phospholipide. Da là một trong những cơ quan dễ bị tổn thương nhất. Mặc dù vậy, sinh thiết da hiếm khi dùng để chẩn đoán, vì xét nghiệm máu đặc hiệu hơn nhiều.

Khớp

Đau khớp là một đặc tính rất thường gặp của bệnh lupus. Đa số bệnh nhân, tiến triển của bệnh khớp không giống như viêm đa khớp dạng thấp, nghĩa là nó không làm tổn thương sụn và bào mòn xương. Tuy nhiên, đau khớp ít gặp trong giai đọan cấp, có thể rất nặng làm người bệnh không thể đi đứng được trong nhiều ngày.

Một số bệnh nhân bị lupus bị bệnh khớp đặc biệt, gọi là bệnh khớp Jaccoud, trong bệnh này cả khớp và dây chằng đều bị. Các ngón tay bị gấp nhẹ. Người bệnh rất khó đối các ngón tay, khó gập các ngón vào lòng bàn tay. Ngón cái thường dạng quá mức. Hơn nữa, người bệnh có thể đau cơ nhiều. Cuối cùng, có thể đứt gân Achille, biến chứng này dễ xảy ra khi dùng corticoid kéo dài.

Mạch máu

Viêm các mạch máu nhỏ(động mạch và tĩnh mạch) là một đặc tính chủ yếu của bệnh lupus. Theo ngôn ngữ y khoa, người ta gọi là viêm mạch máu. Thường hiện tượng này xuất hiện ở đầu chi và ở khủyu. Hiếm hơn là các mạch máu bên trong, đường kính lớn hơn cũng bị ảnh hưởng. Đôi khi mạch máu đáy mắt cũng bị, có màu đỏ hình bó đuốc. Cuối cùng một số bệnh nhân bị lupus có tình trạng tăng đông máu do sự có mặt của kháng thể kháng phospholipides

Tim và phổi

Ngoại tâm mạc và màng phổi có thể bị tổn thương viêm trong đợt bùng phát cấp tính của bệnh. Trong trường hợp viêm màng ngoài tim hoặc tràn dịch màng ngòai tim, người bệnh có triệu chứng đau ngực, tăng lên khi hít thở sâu. Thường thì biến chứng này đáp ứng nhanh chóng với điều trị bằng glucocorticoïdes. Mặt khác, bệnh nhân bị lupus ban đỏ cấp tính rải rác dễ bị nhiễm trùng phổi hơn do dùng thuốc ức chế miễn dịch, làm giảm khả năng đề kháng của cơ thể. Viêm phổi biểu hiện triệu chứng là ho có đàm, sốt, khó thở. Cuối cùng, một biến chứng nặng nhất của bệnh lupus là thuyên tắc phổi, thường gặp ở những bệnh nhân trong máu có kháng thể kháng phospholipides. Lâm sàng của thuyên tắc phổi là đau ngực, khó thở cấp tính, ho khạc ra máu. Điều trị thuyên tắc phổi là nhập viện và dùng thuốc kháng đông.

Thận

Thận là mục tiêu nhắm đến trong bệnh lupus ban đỏ rãi rác, bệnh tiến triển rất lâu trong nhiều năm và không triệu chứng. Chỉ có phân tích kỹ và đặc biệt nước tiểu mới giúp chẩn đoán được. Vì vậy chủ yếu là nên đánh giá thường xuyên chức năng thận cũng như huyết áp. Dấu hiệu sớm nhất thường gặp của viêm thận là tiểu ra proteine. Thận là một hệ thống lọc phức tạp, bình thường nó giữ protein lại trong máu không cho thóat qua nước tiểu. Nếu như cầu thận bị tổn thương, protein sẽ thóat ra và vào trong nước tiểu, đặc biệt là albumine. Do đó, điều quan trọng là phải đánh giá thường xuyên xem có hay không có albumine trong nước tiểu bằng que nhúng. Nhiều bệnh nhân tự theo dõi ở nhà bằng que nhúng để phát hiện albumine trong nước tiểu. Dấu hiệu thứ hai của bệnh thận là tiểu máu, nghĩa là có hồng cầu trong nước tiểu. Thường phát hiện bằng xét nghiệm nước tiểu qua kính hiển vi, phải làm thường xuyên, nước tiểu được lấy khi đói giúp cho cô đặc hơn. Thứ ba là, bệnh thận cũng có thể được phát hiện bằng biến chứng của tăng huyết áp. Vì vậy bạn nên kiểm tra và theo dõi huyết áp thường xuyên. Nếu như xét nghiệm nước tiểu nghi ngờ có tổn thương thận, theo kinh điển thì nên sinh thiết thận bằng kim sau khi gây tê tại chỗ. Mẫu bệnh phẩm được quan sát dưới kính hiển vi để xác định mức độ viêm của thận. Ngày nay, người ta xem bệnh thận là một biến chứng cực kỳ nặng trong bệnh lupus ban đỏ rải rác. Với phát hiện sớm, điều trị sẽ khả quan hơn. Vì vậy, điều trị thích hợp rất có hiệu quả. Chỉ có 5 đến 10 % bệnh nhân bị lupus có tổn thương thận cần lọc thận hay thậm chí ghép thận.

Não

Tổn thương não thường liên quan đến bệnh lupus nhưng khó có thể chẩn đóan và đánh giá được. Mặt khác, những biểu hiện ở não có thể là do viêm(viêm mạch máu) hay do thuyên tắc tĩnh mạch ( trong hội chứng kháng phospholipide) hoặc do biểu hiện của nhiễm trùng( nhất là ở bệnh nhân bị ức chế miễn dịch). Người bệnh thường than phiền là đau đầu, động kinh, hội chứng trầm cảm, bệnh tâm thần, rối lọan nhận thức( như rối lọan trí nhớ chẳng hạn) hay có những cử động bất thường. Đau đầu thường gặp trong bệnh lupus, nhưng đau đầu cũng có thể có trước đó nhiều năm. Ở một số bệnh nhân, đau đầu theo kiểu đau nửa đầu (migrain) kèm theo buồn nôn và ói mửa. Một số trường hợp đau đầu này có liên quan đến những rối loạn đông máu, nhất là do chức năng tiểu cầu. Tai biến mạch máu não, thường kèm liệt ½ người, cử động bất thường. Thường nhất, tai biến xuất hiện vào giai đọan đầu của bệnh. Tai biến có thể kèm theo động kinh nghĩa là co giật đột ngột, mất ý thức và tiểu ra quần. Đa số bệnh nhân, những triệu chứng này đáp ứng tốt với điều trị. Nhất là dùng glucocorticoïdes, các thuốc ức chế miễn dịch khác và thuốc chống động kinh. Ở đa số bệnh nhân khi bệnh vẫn được kiểm sóat, thì nguy cơ tái phát vẫn có thể xảy ra. Những biểu hiện về thần kinh tâm thần của bệnh lupus chỉ được nhận biết mới đây. Nhiều bệnh nhân bị lupus mắc chứng trầm cảm nặng cần phải nhập viện điều trị. Một số bệnh nhân sợ khoảng không hoặc sợ phòng kín. Một số bệnh nhân bị ảo giác như ảo thanh, ảo thị. Một số hiếm trường hợp, bệnh nhân có thể bị tâm thần phân liệt. Người ta chỉ có thể khẳng định rằng những biểu hiện này cũng có thể nặng, đáp ứng tốt với điều trị nội khoa.

Mắt

Khô mắt rất thường gặp. Nhiều trường hợp có kèm theo khô miệng, gọi chung là hội chứng Sjögren. Thông thường, người bệnh không hiểu rằng việc bài tiết nước mắt không đủ. Cần phải khám mắt thường xuyên ở người bị bệnh lupus, vì đó là một trong những nơi hiếm của cơ thể mà mạch máu có thể được quan sát một cách trực tiếp. nhờ vào dụng cụ soi mắt. Các loại thuốc corticoid dùng trong bệnh lupus có thể gây đục thủy tinh thể, thuốc chống sốt rét gây lắng đọng ở giác mạc và võng mạc…

Các cơ quan khác

Hạch và lách có thể bị phì đại, đặc biệt là trong giai đoạn cấp của bệnh. Rất thường bị chẩn đóan là « tăng đơn nhân nhiễm khuẩn » ở giai đoạn này trước khi phát hiện kháng thể kháng nhân. Điều lạ là gan hiếm khi bị ảnh hưởng trong bệnh lupus. Vì vậy vàng da trong bệnh lupus không thể coi như hậu quả của bệnh này. Tất cả những yếu tố trong máu ( hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu) đều có thể bị ảnh hưởng và giảm.
(BSGĐ)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

CHƯƠNG 10 : LUPUS Ở NAM GIỚI

Bệnh lupus rất hiếm gặp ở nam giới, khác với bệnh lupus ở nữ. Nam giới bị luspus không ảnh hưởng gì đến nam tính của họ so với đàn ông bình thường và họ vẫn có đời sống tình dục và có con bình thường. Tiến triển của bệnh ở nam giới cũng giống như ở nữ. Điều trị lupus ở nam cũng giống như nữ.

CHƯƠNG 11 : LUPUS Ở BỆNH NHÂN LỚN TUỔI.

Bệnh lupus hiếm khi xuất hiện ở người lớn tuổi. Mặc khác, biến chứng nặng của bệnh như suy thận hiếm khi xảy ra ở lứa tuổi này. Có lẽ sau tuổi mãn kinh, lupus ít hoạt động hơn ở nữ sau 50. Chẩn đoán lupus ở người lớn tuổi đôi khi sai lầm ở những bệnh nhân bị hội chứng khô mắt, miệng, trong huyết tương của họ có chứa kháng thể kháng nhân, và thực tế họ mắc hội chứng Sjögren. Cuối cùng, đừng bao giờ quên rằng một số loại thuốc dùng cho người lớn tuổi, nhất là thuốc điều trị tăng huyết áp cũng có thể làm xuất hiện kháng thể kháng nhân trong máu mà không có nghĩa là bị lupus. Những bệnh nhân này có thể bị đau khớp, biểu hiện thoái hoá khớp phối hợp với bệnh lupus. Triệu chứng chủ yếu của bệnh lupus ở bệnh nhân lớn tuổi là viêm khớp giống với viêm đa khớp dạng thấp. Thường, thuốc kháng viêm không steroid và thuốc kháng sốt rét kiểm soát tốt triệu chứng. Liều thấp glucocorticoïdes ( 5mg prednisolone/ ngày) có thể được sử dụng ở bệnh nhân không đáp ứng với thuốc kháng viêm không stéroid và thuốc kháng sốt rét. Trong chừng mực nào đó nếu có thể, không nên dùng liều cao glucocorticoïdes ở bệnh nhân lupus lớn tuổi, vì dễ làm giảm khối xương gây loãng xương.

CHƯƠNG 12 : VIÊM MÔ LIÊN KẾT HỖN HỢP

Trong những năm 70, có một số tiến bộ trong việc phát hiện kháng thể đã cho phép xác định một phân nhóm bệnh nhân bị hội chứng Sharp, là tên gọi của vị bác sĩ phát hiện ra bệnh này. Bệnh rất giống lupus, nhưng trừ tổn thương điển hình ở thận. Tính chất « hỗn hợp » hay « chằng chịt » được lý giải là do người ta thường thấy ở những bệnh nhân này những dấu hiệu của xơ cứng bì và viêm cơ. Viêm mô liên kết hỗn hợp đặc trưng điển hình bởi 4 triệu chứng:

a) Hiện tượng Raynaud (ngón tay chuyển màu trắng khi ra lạnh).

b) Viêm khớp kèm theo cứng ngón tay.

c) Không có, hoặc hiếm khi có những biến chứng toàn thân của bệnh lupus, nhất là thận.

d) Kháng thể kháng RNP tăng cao trong máu mà không kèm theo kháng thể kháng ADN.

Hiện tượng Raynaud là do co thắt mạch máu ( co tiểu động mạch) ở đầu chi. Các ngón tay đột nhiên chuyển thành màu trắng khi tiếp xúc với lạnh, khi hết lạnh ngón tay trở về màu đỏ. Hiện tượng khởi phát là do lạnh, nhưng đôi khi cũng do stress. Điều kỳ lạ là, chỉ có 1 hoặc 2 ngón bị tổn thương riêng lẻ. Điều trị hiện tượng này gặp nhịều khó khăn vì không có loại thuốc nào là hiệu quả cho triệu chứng này. Trong viêm mô liên kết hỗn hợp, viêm khớp ngón tay có thể giống như viêm đa khớp dạng thấp. Tuy nhiên, khám cẩn thận đầu ngón tay cho thấy không chỉ có khớp mà cả mô mềm ngón tay đều bị sưng. Sưng nhiều có thể cần phải dùng đến thuốc kháng viêm không steroid, liều thấp glucocorticoïdes, trong trường hợp nặng cần phải dùng đến methotrexate. Tổn thương cơ không phải là hiếm gặp trong viêm mô liên kết hỗn hợp Sharp. Tổn thương cơ biểu hiện bằng đau và yếu cơ. Ở một số bệnh nhân, đó có thể là biểu hiện đầu tiên của bệnh.

Điều trị viêm mô liên kết hỗn hợp là điều trị viêm khớp. May mắn là bệnh thường nhẹ, không cần phải điều trị tấn công. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân cần phải dùng liều thấp glucocorticoide trong nhiều năm, và việc ngưng corticoid có thể tỏ ra rất khó khăn. Thuốc kháng sốt rét cũng hiệu quả trong chỉ định này.

CHƯƠNG 13 : HỘI CHỨNG KHÁNG PHOSPHOLIPIDE (HỘI CHỨNG HUGES)

Năm1983, người ta đã phát hiện và mô tả một hội chứng mang tên là hội chứng Hughes, đặc trưng bởi huyết khối động mạch và huyết khối tĩnh mạch tái phát, phối hợp với sảy thai liên tiếp. Huyết thanh của những bệnh nhân này có chứa kháng thể kháng phospholipide, còn gọi là kháng thể kháng cardiolipine hay kháng thể kháng đông của lupus. Phospholipide là những chất lipide phức tạp có chứa ở màng tế bào, nhất là ở những tế bào lót ở thành mạch và tế bào tiểu cầu, là loại tế bào máu tham gia trong quá trình đông máu. Lúc đầu, hội chứng kháng phospholipide được mô tả ở người bị bệnh lupus hồng ban rãi rác, nhưng nhanh chóng gặp ở bệnh nhân không mắc bệnh lupus, như trong bệnh viêm khớp dạng thấp khác, hoặc trong hội chứng huyết khối tái phát. Phát hiện này có 2 ý nghĩa quan trọng. Thứ nhất, từ nay về sau không phải tất cả những triệu chứng của bệnh lupus là không nhất thiết có liên quan đến hiện tượng viêm, và trong số đó là thứ phát sau những biểu hiện của huyết khối. Thứ hai, việc phát hiện ra hội chứng này đã làm thay đổi cách điều trị ở một số bệnh, vì vậy trong số đó hưởng lợi thêm từ cách điều trị hiện nay bằng thuốc kháng đông, thuốc glucocorticoïdes hay các thuốc ức chế miễn dịch khác. Nói cách khác, sinh lý bệnh của lupus làm cho người ta nghĩ đến phản ứng viêm, ở một số ít bệnh nhân là nghĩ đến hiện tượng huyết khối. Hội chứng kháng phospholipide đầu tiên có liên quan đến tĩnh mạch. Vì vậy, ở những bệnh nhân này thường có huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới. Hiếm gặp hơn là huyết khối tĩnh mạch chi trên hay trong những cơ quan nội tạng như gan, ống tiêu hoá hay phổi. Huyết khối động mạch cũng có thể xảy ra ở bất kỳ hệ thống động mạch nào, ngoại biên hay nội tạng. Vì vậy, không phải là ngoại lệ khi phát hiện thấy huyết khối trong não, mắt, tuyến thượng thận và tim. Các biến chứng về thần kinh của hội chứng kháng phospholipide có nhiều và đa dạng. Có thể đó chỉ là hiện tượng lành tính, biểu hiện bằng triệu chứng đau đầu, thoáng thiếu máu não. Cũng có thể biểu hiện nặng hơn như liệt nửa người, thất điều (múa vờn Saint-Guy). Do khó khăn trong điều trị( dùng thuốc kháng đông mạnh và kéo dài), do đó rất khó khăn trong việc chỉ định điều trị bệnh nhân có kháng thể kháng phospholipide mà lâm sàng ít biểu hiện. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm cho chúng tôi biết rằng, trong trường hợp này phòng ngừa vẫn tốt hơn là điều trị. Một biểu hiện nữa của kháng phospholipide là xét nghiệm máu thấy số lượng tiểu cầu giảm thấp, nhưng lại nghịch lý là những bệnh nhân này lại thường có cục máu đông trong động mạch và tĩnh mạch. Thường số lượng tiểu cầu giảm thấp vừa phải ( còn khoảng 30.000 - 80.000/mm3).Giám tiểu cầu này không nguy hiểm, bản thân giảm tiểu cầu này không cần thiết phải điều trị đặc biệt. Bệnh nhân mắc hội chứng kháng phospholipide có thể tình cờ bị luôn bất thường van tim là do sự phát triển của những nốt viêm( gọi là nốt sùi). Thông thường, những bất thường này không có triệu chứng. Hiếm gặp hơn, bệnh có thể gây ra khó thở hoặc nghe được âm thổi đôi ở tim. Siêu âm tim có thể phát hiện thấy những nốt và rối loạn chức năng của van tim. Thông thường, bất thường này không làm thay đổi triệu chứng cơ năng, cho nên không cần phải điều trị đặc hiệu. Trừ khi, tổn thương van tim đủ nhiều cần phải thay van tim. Như chúng tôi đã nói ở trên, phụ nữ mang thai có kháng thể kháng phospholipide thường dễ bị sảy thai và thường bị tai biến sản phụ khoa. Hiện nay, sự hiện diện bất thường của kháng thể trong máu được tìm thấy một cách thường qui ở phụ nữ đi khám sản khoa. Điều trị hội chứng này trong thời gian mang thai là dùng thuốc kháng đông, dùng aspirine liều thấp, thuờng kết hợp vớ thuốc kháng đông(heparine). Việc phát hiện ra hội chứng kháng phospholipide đã đặt ra nhiều vấn đề, đặc biệt trong điều trị bệnh lupus hồng ban cấp tính rải rác và bệnh viêm đa khớp dạng thấp nói chung. Vã lại, phát hiện loại kháng thể này đã mở ra những triển vọng mới trong lĩnh vực điều trị huyết khối, cũng như tai biến mạch máu não và nhồi máu cơ tim.

CHƯƠNG 14 : LUPUS DẠNG ĐĨA

Lupus dạng đĩa là một bệnh của da, là hình thức đầu tiên được mô tả của bệnh này. Vì triệu chứng giới hạn ở da, nên tiên lượng của bệnh tốt. Chỉ có bệnh này có thể đặt ra vấn đề quan trọng ở da, mà vấn đề tâm lý là chính vì tổn thương này nằm ngay trên mặt. Lupus dạng đĩa là một hồng ban chủ yếu ở gò má và gốc mũi, nhưng hồng ban cũng có thể gặp ở da đầu cũng như ở phần khác của cơ thể. Ngược lại với lupus hồng ban cấp tính rải rác cổ điển, lupus dạng đĩa có thể để lại sẹo. Vào giai đoạn bệnh bùng phát, người ta thấy da dày lên và bong vẩy. Sang thương này có màu đỏ do viêm. Tổn thương ngón tay, ngón chân có thể rất nặng và gây đau khi có nứt. Móng tay thường dễ bị tổn thương và gẫy. Ngoài ra, cũng có thể thấy những sang thương ở ống tai ngoài. Ở một số bệnh nhân, còn gặp loét miệng( đẹn). Khác với hồng ban rải rác cổ điển, lupus dạng đỉa có thể ảnh hưởng đến mọi lứa tuổi, có thể 60 tuổi. Khoảng 5% bệnh nhân bị lupus dạng đĩa chuyển sang giai đoạn bệnh lan toả rộng hơn, lúc này là giai đoạn của lupus hệ thống. Một tỉ lệ lớn bệnh nhân bị lupus dạng đĩa cũng bị khô mắt, khô miệng, gặp trong hội chứng Sjögren, đòi hỏi phải điều trị bằng nước mắt nhân tạo. Bệnh nhân bị lupus dạng đĩa cũng có thể kèm viêm khớp. Chúng tôi nhận thấy sự phối hợp này ở bệnh nhân khoảng 50-70, mà người bệnh thường than đau khớp giống như viêm khớp dạng thấp, nhưng tổn thương da vẫn nằm trong lupus dạng đĩa. Cuối cùng, nên nhớ là một số bệnh nhân bị lupus dạng đĩa cũng có thể mang kháng thể kháng phospholipide, và vì vậy cũng có thể có những biến chứng điển hình kết hợp với hội chứng này. Người bệnh có thể bị trầm cảm , mệt mỏi khó giải thích. Điều trị bệnh lupus dạng đĩa chủ yếu bằng thuốc kháng sốt rét (hydroxychloroquine, chloroquine). Corticoid dùng bằng loại dán trên da. Trong trường hợp nặng hiếm gặp, chúng tôi dùng thalidomide, vì thuốc này có nhiều tác dụng phụ ( viêm đa dây thần kinh) nên ít khi dùng rộng rãi. Cuối cùng, những vết sẹo ở mặt trong lupus dạng đĩa có thể được điều trị bằng phẫu thuật thẩm mỹ tạo hình.

CHƯƠNG 15 : HỘI CHỨNG SJÖGREN

Hội chứng Sjögren có thể được coi như một dạng nặng của bệnh lupus. Năm 1930, Hendrik Sjögren, một bác sĩ nhãn khoa Thụy Điển đã quan sát thấy rằng, một số bệnh nhân bị lupus mắc chứng khô mắt kèm khô miệng và viêm khớp dạng thấp. Từ nhận định này( khô mắt, khô miệng và viêm khớp) được biết dưới tên là hội chứng Sjögren. Ngày nay chúng ta biết rằng đa số viêm kết mạc mắt cũng có thể kết hợp với hội chứng Sjögren, nhất là bệnh lupus rải rác, viêm kết mạc hỗn hợp, lupus dạng đĩa và xơ cứng bì. Mặc khác, hội chứng Sjögren có thể xuất hiện riêng lẽ và độc lập với những bệnh kể trên. Mọi lứa tuổi đều có thể bị, tuổi trung bình của những bệnh nhân này lớn tuổi hơn trong lupus kinh điển. Mối tương quan giữa lupus và hội chứng Sjögren không chỉ cùng tồn tại 2 bệnh này trên cùng một bệnh nhân, mà còn trong hiện tại. Trong hội chứng Sjögren, lượng kháng thể kháng nhấn tăng cao như trong bệnh lupus. Sau cùng, những bệnh nhân bị lupus ban đỏ rãi rác thường tiến triển sau 50 năm sang thành hội chứng Sjögren thứ phát. Hay nói chính xác hơn, những đặc tính chung của bệnh lupus đã thuyên giảm nhưng triệu chứng khô miệng và khô mắt xuất hiện ngày càng nặng dần. Trong hội chứng Sjögren, mắt bị cay và kính thích, đặc biệt là buổi sáng. Người bệnh thường có triệu chứng nhạy cảm ánh sáng. Điều ngạc nhiên là, tất cả những bệnh nhân đều không nhận biết là mình bị khô mắt. Trong những trường hợp này cần phải làm một test gọi là test Schirmer. Test này làm như sau : đặt một băng giấy thấm ở ngay khóe mắt. Đa số bệnh nhân, phương pháp này gây ra kích thích rất dữ dội, làm tiết nhiều nước mắt, làm cho giấy thấm ướt trong vài giây. Ở những người mắc hội chứng Sjögren, giấy thấm vẫn hoàn toàn khô, thậm chí sau thời gian 5 phút cũng không ướt. Những test khác được sử dụng trong khám mắt với « lam có kẻ », được nhỏ trên đó một giọt fluorescéine hoặc hồng Bengale ở khóe mắt. Người ta cũng có thể thấy được loét giác mạc thứ phát sau khô mắt. Khô miệng, gặp khó khăn khi ăn thức ăn khô như bánh mì, đôi khi ngay cả uống thuốc cũng gặp khó khăn. Vã lại, khô nước bọt cũng là yếu tố thuận lợi cho sâu răng. Niêm mạc những nơi khác cũng có thể bị khô, nhất là niêm mạc dạ dày, niêm mạc âm đạo. Ở một số bệnh nhân nữ, có thể gây đau khi giao hợp, tăng nguy cơ nhiễm trùng âm đạo, nhất là nấm candida. Đau khớp thường gặp trong hội chứng Sjögren. Mức độ đau khớp có thể từ nhẹ đến rất nặng. Theo quan điểm về miễn dịch học, người ta thường thấy có tăng cao gammaglobuline trong máu (lượng kháng thể trong máu tăng rất cao). Ở một số bệnh nhân, lượng gammaglobulin máu tăng cao đến nổi nó có thể gây tắc các mạch máu nhỏ ở da, làm xuất hiện những đốm màu đỏ ở chân, được biết dưới tên gọi đốm xuất huyết. Nhiều bệnh nhân, đốm xuất huyết da xuất hiện tăng lên khi gắng sức. Điều trị biến chứng này thường đơn giản, vì bệnh tiến triển thuận lợi, giảm khi nghĩ ngơi, và khi dùng vài viên thuốc kháng viêm không steroid. Mặt khác, có nhiều kháng thể kháng nhân, đặc biệt là kháng thể khángRo/SSA hay La/SSB. Người ta không tìm thấy kháng thể kháng ADN và không có sự tiêu thụ bổ thể. Ngoại lệ, những bệnh nhân mắc hội chứng Sjögren nguyên phát, có thể chuyển thành bệnh lymphome, đây là một lọai bướu ác tính của hạch, may là bệnh này đáp ứng tốt với điều trị. Biến chứng này của bệnh Sjögren minh họa rất rõ mối liên quan giữa bệnh tự miễn, bệnh lý huyết học và ung thư. Điều đáng tiếc là hiện nay chưa có biện pháp nào đễ chữa trị tận gốc hội chứng Sjögren. Dùng nước mắt nhân tạo (méthyl-cellulose) cho những bệnh nhân bị hội chứng này. Thuốc kháng viêm không steroid được chỉ định trong trường hợp đau khớp nhiều. Thuốc kháng sốt rét có thể hữu ích đặc biệt trong những dạng viêm khớp có biến chứng hoặc sưng tuyến nước bọt lập đi lập lại. Corticoid và các thuốc ức chế miễn dịch khác hiếm khi được sử dụng cho bệnh này.
BSGĐ
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

CHƯƠNG 5 : ĐIỀU TRỊ-CÁC LOẠI THUỐC THƯỜNG DÙNG NHẤT

Các loại thuốc thường dùng trong điều trị bệnh lupus là : corticoïde, kháng viêm không stoïd, thuốc chống sốt rét và thuốc ức chế miễn dịch. Chỉ định dùng các loại thuốc này phụ thuộc vào mức độ nặng của bệnh. Những dạng nặng thường được điều trị bằng liều cao glucocorticoïde và thuốc ức chế miễn dịch, trong khi đó những dạng bệnh nhẹ hơn được điều trị bằng thuốc kháng viêm không steroid hoặc dùng corticoid ở liều sinh lý. Và điều trị nền bằng thuốc kháng sốt rét.

Corticostéroïde

Các stéroïdes (như prednisolone) có nhiều tiến bộ trong điều tri lupus. Dùng thuốc đã giảm tổn thương nguy hiểm đe dọa tính mạng người bệnh như tổn thương thận, máu, hệ thần kinh trung ương. Chắc chắn ai cũng biết tác dụng phụ của corticoid . Nhưng hình ảnh mà người ta quan ngại là dùng corticoid liều cao kéo dài có thể gây ra ứ nước, mặt tròn như mặt trăng, tiểu đường, loãng xương, lóet dạ dày, đục thủy tinh thể…Hiện nay, trong điều trị lupus người ta dùng liều thấp. Corticoid vẫn là loại thuốc sẵn có, với tác dụng kháng viêm mạnh. Tuy nhiên, với sự tiến bộ của y học và cộng với kinh nghiệm đã cho phép chúng ta chuẩn hóa cách dùng thuốc và hạn chế tối đa liều dùng cần thiết để giảm bớt tác dụng phụ.

Các loại Stéroïdes thường dùng

Stéroïdes thường dùng nhất là prednisolone (Deltacortril) và méthylprednisolone (Médrol). Đó là những dạng có tác dụng mạnh tương tự nhau: 5mg prednisolone tương đương với 4mg méthylprednisolone.

Liều dùng

Liều dùng tùy theo từng bệnh nhân. Đối với bệnh cấp tính ảnh hưởng đến các cơ quan sinh tồn cần liều đến 0,5 mg/kg prednisolone (30mg/ngày, ngọai lệ có trường hợp cần đến 1mg/kg/ngày). Sau đó giảm liều dần, đến liều duy trì 5-7,5mg prednisolone/ngày. Đôi lúc, ở giai đọan khởi đầu của bệnh, có thể dùng liều tấn công bằng đường tĩnh mạch méthylprednisolone để đạt kết quả kháng viêm nhanh. Dùng 1mg/kg méthylprednisolone đôi khi cần phải lập lại : Thật ra dùng liều tấn công bằng đường tĩnh mạch không gây ra nhiều tác dụng phụ như người ta thường nghĩ. Trong những trường hợp bệnh nhẹ, đặc biệt có viêm khớp, liều gọi là « sinh lý » là prednisolone (5 -7,5mg/ngày) được chỉ định cho bệnh nhân. Liều này gọi là « sinh lý » vì nó tương ứng với lượng cortisone được cơ thể sản xuất ra mỗi ngày. Với liều này, có thể sử dụng lâu dài mà không gây ra tác dụng phụ nào đáng kể.

Tác dụng phụ của glucocorticoïdes

Thật ra, với liều thấp 5-7,5mg/ngày ít khi gây ra tác dụng phụ .Với liều cao hơn có thể chỉ dùng trong thời gian càng ngắn càng tốt, cần phải cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ của việc điều trị. Tuy nhiên, hiên nay, các phương tiện phòng ngừa hiệu quả tùy theo bác sĩ và người bệnh, nhằm hạn chế tác dụng có hại của corticoides trên cơ thể. Ở liều cao, glucocorticoïdes có thể gây ra tăng huyết áp, rối lọan chuyển hóa glucide( tiểu đường) và loãng xương. Nên đo loãng xương thường qui ở những bệnh nhân điều trị cortisone và cần phòng ngừa loãng xương.

Thuốc ức chế miễn dịch

Thuốc ức chế miễn dịch tuyệt vời là cortisone, những lọai thuốc khác được sử dụng hỗ trợ để giảm nhanh hơn liều steroide cần thiết kiểm soát bệnh. Ở bệnh nhân bị bệnh lupus nặng, sử dụng thuốc ức chế miễn dịch như azathioprine (Imuran) . Hơn nữa, rõ ràng là dùng hỗ trợ cyclophosphamide (Endoxan) hay Imuran với stéroïde liều cao, cải thiện rõ rệt tiên lượng tổn thương thận trong bệnh lupus ban đỏ. Có một sự thay đổi lớn về thuốc và một thử nghiệm đáng kể tích lũy từ nhiều năm nay liên quan đến việc sử dụng, đặc biệt bởi vì những lọai thuốc này được sử dụng ở liều cao hơn nhiều ở bệnh nhân bị ung thư. Trong bệnh lupus, thuốc được sử dụng ở liều thấp hơn nhiều..

Azathioprine (Imuran)

Azathioprine là một loại thuốc được sử dụng rộng rãi trong điều trị bệnh lupus. Mặc dù cũng như những loại thuốc khác thuộc lọai này, thuốc có thể làm giảm lượng bạch cầu trong máu, thuốc có ranh giới an tòan rất rộng và được chỉ định điều trị trong nhiều bệnh lupus kể cả trẻ em và phụ nữ mang thai. Liều thường dùng là 2,5mg/kg hay 2-3 viên 50 mg/ngày.

Tác dụng phụ

Azathioprine không phải là một stéroïde vì vậy nó không có tác dụng phụ nào, như tăng cân chẳng hạn. Tác dụng phụ nặng nhất là giảm họat tính của tủy xương, kết quả là giảm bạch cầu, hiếm hơn là giảm tiểu cầu, hồng cầu. Vì vậy cần phải làm xét nghiệm máu. Tác dụng phụ thường gặp là nôn ói, ăn khó tiêu. Đôi lúc buồn nôn cần phải ngưng điều trị. Những bất thường về gan cũng có thể có. Hiếm hơn là biểu hiện mẫn cảm với thuốc biểu hiện bởi sốt cao, lúc này cần phải ngưng điều trị.

Cyclophosphamide (Endoxan)

Là một lọai thuốc có tác dụng mạnh và độc tính cũng mạnh hơn azathioprine. Thuốc được chỉ định điều trị khởi đầu cho những dạng nặng nhằm cải thiện nhanh chóng tình trạng lui bệnh. Vì thuốc có độc tính ở dạng uống cho nên hiện nay thuốc được dùng bằng đường tĩnh mạch với liều tấn công trong thời gian khá lâu với liều tương đối cao tùy theo phác đồ điều trị, sau đó ngưng thuốc và thay vào đó là azathioprine.

Tác dụng phụ

Cyclophosphamide có khả năng làm giảm lượng bạch cầu trong máu nhiều hơn azathioprine. Việc dùng thuốc này cần phải theo dõi sát. Số lượng bạch cầu giảm quá thấp làm cho người bệnh dễ nhiễm trùng như virus (zona) hoặc vi trùng. Khi dùng thuốc bằng đường uống, cyclophosphamide có thể tác dụng giao thoa với hoạt động của tế bào trứng và làm cho người bệnh bị gián đọan kinh nguyệt. Thuốc dùng liều tấn công bằng đường tĩnh mạch có thể giảm bệnh, nhưng nó có thể gây viêm bàng quang xuất huyết do độc tính của thuốc trên bàng quang. Thuốc có thể gây ra buồn nôn, nôn và được kiểm sóat bằng thuốc chống ói mạnh. Một số bệnh nhân có thể bị rụng tóc thoáng qua.

Cyclophosphamide dùng liều tấn công

Phác đồ điều trị tấn công bằng cyclophosphamide đường tĩnh mạch là điều trị trong 2 năm(mỗi tháng chích 6 lần, sau đó 3 tháng chích 6 lần), liều tùy thuộc vào cân nặng của người bệnh và tác dụng của thuốc trên bạch cầu. Ngày nay, xu hướng tấn công liều thấp hơn và thời gian điều trị cũng ngắn hơn.

Thuốc kháng viêm không steroid

Đây là một nhóm thuốc thường dùng điều trị bệnh khớp (đau khớp, viêm khớp). Thuốc thường được dùng phối hợp với liều thấp prednisolone. Bất lợi chính của thuốc là rối lọan tiêu hóa : lóet dạ dày tá tràng, đôi khi xuất huyết tiêu hóa.

Dược động học

Thuốc kháng viêm không stéroid ức chế men cyclo-oxygénase (Cox), là một lọai men cần thiết cho sự hình thành hóa chất trung gian gây viêm.: cyclooxygénase 1 (Cox-1) là một enzyme có mặt thường xuyên ở nhiều loại mô của cơ thể , cyclooxygénase 1 là tác nhân hình thành prostaglandines, là thành phần của niêm dịch, bảo vệ niêm mạc dạ dày tá tràng khỏi tác dụng phá hủy của acid dạ dày. Cyclooxygénase 2 là một loại cyclooxygénase « xấu » có trong các khớp viêm, là tác nhân sản xuất ra hóa chất trung gian gây viêm. Thuốc kháng viêm không steroid là ức chế men cyclo-oxygénase 1 cũng như cyclooxygénase 2, từ đó thuốc có những tác dụng phụ của nó.Tuy nhiên, một sự phân loại mới về thuốc xuất hiện trên thị trường là ức chế COX-2 đặc hiệu, tức là ức chế COX xấu hơn là COX tốt, từ đó hạn chế tác dụng phụ trên dạ dày-tá tràng.

Thuốc kháng sốt rét

Thuốc nhóm này là một phần trong điều trị lupus. Thuốc được sử dụng đầu tiên trong bệnh lupus hàng trăm năm nay tại bệnh viện St Thomas, do bác sĩ Paine thực hiện, đã mang lại những kết quả lâm sàng được đăng chi tiết về hiệu quả của việc dùng thuốc chống sốt rét trong bệnh lupus dạng đĩa, cho thấy thuốc có tác dụng không chỉ trên da mà còn còn có tác dụng đối với những triệu chứng toàn thân như sốt, đau khớp. Cơ chế tác dụng của thuốc trong bệnh lupus vẫn chưa rõ, nhưng thuốc vẫn ít được chỉ định một cách thường xuyên, đặc biệt đối với triệu chứng ở da hoặc bệnh khớp. Thuốc kháng sốt rét thường dùng là hydroxychloroquine (Plaquénil).Đôi khi người ta thích dùng chloroquine (Nivaquine) hơn, nhưng thuốc cũng có tác dụng phụ nặng hơn.

Hydroxychloroquine

Thuốc này được dùng liều 2 viên/ngày (400mg) hoặc 1 viên (200mg). Thuốc giúp ích cho những bệnh nhân bị lupus da nặng hoặc bệnh nhân có những vấn đề về khớp. Chỉ sau 6 tuần điều trị và tác dụng của thuốc có thể thay đổi nhưng đôi khi cho kết quả ngọan mục, làm biến mất hoàn toàn hồng ban ở da. Thuốc kháng sốt rét có thể dùng trong suốt nhiều tháng và thậm chí trong nhiều năm liên tiếp với rất ít tác dụng phụ.

Tác dụng phụ của thuốc kháng sốt rét

Mối quan tâm chính là tổn thương võng mạc. Trước đây, người ta cho rằng thuốc có thể gây bệnh về mắt và thậm chí mù nhưng ít có giá trị pháp lý. Ngày nay, rõ ràng là hydroxychloroquine thuốc rất ít gây ra độc tính so với chloroquine và dường như dùng liều thấp là tuyệt đối an toàn. Tuy nhiên, người bệnh dùng hydroxychloroquine nên được khám thị giác hàng năm. Tác dụng phụ khác là rối loạn tiêu hóa(buồn nôn), ù tai đôi khi nhức đầu. Đặc biệt khi điều trị khởi đầu bằng liều cao có thể thấy tác dụng trên cơ mắt, gây khó vận nhãn, nhìn đôi. Điều này làm người bệnh lo sợ, nhưng đây là tác dụng phụ hồi phục hoàn toàn sau khi ngưng thuốc. Nên cẩn thận, không nên dùng thuốc chống sốt rét trong trường hợp có thai. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân mang thai và sanh đủ tháng thành công khi dùng thuốc kháng sốt rét. Vì vậy, không nên quá lo lắng khi mang thai mà dùng thuốc này.

Những bệnh nhân bị lupus dùng hydroxychloroquine, khi đi du lịch sang những nước khác-thuốc hydroxychloroquine đơn thuần không có tác dụng bảo vệ chống sốt rét.

CHƯƠNG 6 : CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LUPUS

Đa số những trường hợp bùng phát bệnh không phải là do yếu tố ngoại sinh. Tuy nhiên, một số yếu tố có thể ảnh hưởng ở một vài bệnh nhân. Những yếu tố này bao gồm stress, một số loại thuốc, thay đổi nội tiết, ánh sáng, đặc biệt là tia cực tím mặt trời.

Stress

Có nhiều bệnh nhân họ quen và có kinh nghiệm bệnh sắp xảy ra có liên quan đến những loại stress hoặc giai đoạn khó khăn trong đời sống trong gia đình cũng như trong đời sống nghề nghiệp. Điều tế nhị là sự phối hợp này có tính khoa học. Thật ra, stresss là một phần trong cuộc sống của mỗi chúng ta và ngày nay hiếm có ai mà hoàn toàn hạnh phúc trong một thế giới hiện đại đầy nghịch lý. Mặt khác, bản thân bệnh cũng ảnh hưởng lên hoàn cảnh sống hàng ngày và góp phần vào khó khăn trong công việc hay trong đời sống xã hội. Đối với bệnh nhân bị lupus, vấn đề thường khó giải quyết. Thay đổi công việc bởi vì điều này thật khó khăn và stress có thể cải thiện điều kiện bệnh nhưng điều này không thể có được trước tiên.. Chọn lựa không thích hợp có thể làm nặng thêm tình trạng stresss.

Thuốc

Có một số thuốc được biết có thể làm khởi phát bệnh lupus. Những thuốc này là : sulfamide một số thuốc kháng sinh như pénicilline. Khó có thể phát hiện rõ sự kết hợp giữa hóa chất hay thức ăn và tỉ lệ mắc bệnh. Tuy nhiên cần phải nghiên cứu những chất này ở người bệnh.

Hormone

Sự thay đổi hormone ảnh hưởng đến lupus. Người ta nhận thấy lupus ảnh hưởng chủ yếu đến phụ nữ tuổi còn trẻ đang tuổi sinh sản. Lupus hiếm khi xảy ra ở phụ nữ sau tuổi mãn kinh. Rõ ràng là sự thay đổi hormone khi mang thai và khi sanh có liên quan đến đợt bùng phát của bệnh. Chính vì thế, từ lâu, nhiều bác sĩ cho người bệnh lupus dùng thuốc ngừa thai hay những chất hỗ trợ sau mãn kinh.Tuy nhiên, những nghiên cứu được thực hiện cho thấy rằng thuốc viên ngừa thai cũng như những biện pháp điều trị hỗ trợ không gây nguy hiểm cho bệnh nhân. Ở một nhóm nhỏ bệnh nhân mang kháng thể kháng phospholipides cần thận trọng vì trong chừng mực nào đó œstrogènes có thể làm tăng nguy cơ tạo huyết khối.

Anh sáng cực tím

Ánh sáng cực tím đã được biết từ nhiều năm nay có thể gây ra bùng phát bệnh lupus. Cơ chế của bệnh vẫ n chưa được biết rõ. Thật ra, không phải tất cả bệnh nhân nào cũng đều nhạy cảm với ánh sáng mặt trời.Gần 50% bệnh nhân có tiền căn rõ rệt nhạy cảm với ánh sáng mặt trời. Thứ hai là, ở cùng một bệnh nhân mức độ nhạy cảm với ánh sáng mặt trời tùy thuộc vào giai đọan bệnh. Nhiều người trong giai đọan bệnh họat động rất nhạy cảm với ánh sáng mặt trời. Đặc biệt không thể nói trước được bệnh nhân nào có nguy cơ khi ra nắng, vì vậy phải cẩn thận. Việc sử dụng kem chống nắng được khuyến cáo. Điều quan trọng là nên tránh tiếp xúc trực tiếp với tia cực tím, đặc biệt là ban ngày.

Thức ăn

Hiện nay chưa có tài liệu nào nói rằng ăn thức ăn này hay thức ăn khác làm xuất hiện bệnh lupus hay làm cho bệnh lupus nhẹ hơn.

Chủng ngừa

Từ lâu, người ta tin rằng bệnh lupus bùng phát khi chủng ngừa. Thật ra hiếm có ca nào như vậy được báo cáo trong y văn. Từ những nghiên cứu rộng lớn, nghiên cứu tiền cứu cho thấy rằng chủng ngừa ở bệnh nhân bị lupus không có gì nguy hiểm, vả lại có hiệu quả. Trong chừng mực nào đó một vài điều trị ức chế miễn dịch có thể làm cho người bệnh nhạy cảm với nhiễm trùng. Ngày nay, người ta khuyên chủng ngừa một cách thường qui cho bệnh nhân bị lupus, kể cả những dạng nặng : chủng ngừa cúm, phế cầu,v.v.

CHƯƠNG 7 : MANG THAI VÀ LUPUS

Nếu là phụ nữ trẻ bị bệnh lupus có tiền căn bị bệnh thận, khuyên họ tránh không nên có thai. Lupus là một bệnh có khá năng gây chết người. Cơ hội chuyển dạ thành công rất ít. Hiện nay, xu hướng đã bị đảo ngược, nhiều bệnh nhân bị lupus ban đỏ mà vẫn mang thai sanh đủ tháng bình thường. Tuy nhiên, đối với một số bệnh nhân, nguy cơ bùng phát bệnh và suy chức nặng thận vẫn hiện hữu. Không có chống chỉ định tuyệt đối khi mang thai : tuy vậy, khi bệnh đang giai đọan họat động hoặc có suy chức năng thận từ từ cần phải xem xét trước khi mang thai. Nhưng theo kinh nghiệm của chúng tôi, ngay cả những bệnh nhân được điều trị tích cực do suy thận, vẫn có thể sinh con bình thường.

Mang thai có làm cho bệnh bùng phát không ?

Bệnh thường bùng phát nhất trong suốt tam cá nguyệt thứ 2 và thứ 3 và trong những tháng đầu sau khi sinh. Thông thường, bùng phát này không nặng và dễ dàng điều trị. Trong suốt giai đoạn bệnh bùng phát, bệnh nhân cần phải được theo dõi sát và thường xuyên.

Điều trị bệnh nhân mang thai vừa mắc bệnh lupus

Một số bệnh nhân bị bệnh lupus bùng phát trong suốt thời kỳ mang thai, đôi khi cần phải nhập viện điều trị. Một trong những vấn đề thường gặp nhất là tăng huyết áp, đặc biệt ở những bệnh nhân có bệnh thận. Xưa kia, người mắc bệnh thận được xem như không nên có thai. Ngày nay không như vậy nữa. Mặc dù huyết áp có thể khó kiểm soát, nhưng với những loại thuốc sẵn có hiện nay vẫn có thể kiểm soát huyết áp một cách có hiệu quả. Trong mọi trường hợp đều cần phải theo dõi sát.

Dùng thuốc trong suốt thời kỳ mang thai

Có nhiều lọai thuốc có thể được chỉ định dùng trong suốt thời gian mang thai mà không nguy hiểm gì cho bé. Đó là corticoid, loại thuốc thường được sử dụng, không qua hàng rào nhau thai. Ở một số phụ nữ mang thai mắc bệnh lupus giai đoạn hoạt động, liều prednisone có thể cho đến 40 mg/ ngày trong suốt thời gian mang thai. Đương nhiên đối với người mẹ, điều trị liều cao lâu dài là có vấn đề(tiểu đường, tăng cân, tăng huyết áp), và cũng may là có rất ít bệnh nhân cần phải dùng đến liều như vậy. Đối với những bệnh nhân nặng hơn, đặc biệt là bệnh thận, những loại thuốc như azathioprine có thể cần thiết. Những dữ kiện cho thấy rằng, azathioprine không đặt ra vấn đề đối với mẹ cũng như đối với bé. Còn đối với thuốc kháng sốt rét như hydroxychloroquine, chúng tôi không dùng trong thời gian mang thai. Tuy nhiên, dường như thuốc này có thể chỉ định cho mẹ mang thai mà không nguy hiểm đối với bé. Còn đối với những thuốc khác, mỗi loại cần được bác sĩ xem xét cụ thể. Thuốc mà người ta cần tránh dùng trong suốt thời gian mang thai là warfarine (Sintrom), đây là một lọai thuốc kháng đông dùng cho những bệnh nhân có rối loạn đông máu. Trong thời kỳ đầu khi mang thai, warfarine có thể làm tổn hại đến thai nhi. Vì vậy thuốc này cấm dùng cho phụ nữ có thai và được thay thế bằng héparine.

Sảy thai liên tiếp

Sự hiện diện của kháng thể đặc biệt, gọi là kháng thể kháng phospholipides, có thể gây ra huyết khối tái phát ở một nhóm bệnh nhân nào đó. Khi huyết khối này xuất hiện trong tuần hoàn nhau thai, làm cho dòng máu đến thai nhi không đủ kết quả là gây sảy thai. Vì vậy những trường hợp sảy thai tự phát có thể là một biểu hiện của hội chứng kháng phospholipide hay còn gọi là hội chứng Hughes. Ngày nay, những bệnh nhân bị hội chứng này có thể được điều trị thành công bằng thuốc kháng đông..

Em bé có bị ảnh hưởng bởi bệnh lupus của mẹ không ?

Không có nguy cơ gia tăng nào ở trẻ có mẹ hay cha mắc bệnh lupus. Nhưng chắc chắn một điều có một yếu tố di truyền tiềm tàng của bệnh, có thể là nhiều người trong gia đình mắc bệnh. Tuy nhiên, điều này cũng hiếm xảy ra, và không phải là lý do khuyên người phụ nữ không được lập gia đình. Có một dạng lupus sơ sinh, rất may là hiếm gặp, xảy ra ở trẻ có mẹ mang kháng thể kháng Ro. Trong suốt thời gian mang thai, kháng thể từ mẹ đi qua tuần hoàn thai nhi, và cũng ít gặp, và kháng thể này có thể gây ra triệu chứng ở thai nhi : nổi hồng ban da, xuất huyết giảm tiểu cầu và tổn thương tim. Tất cả những triệu chứng này hồi phục và biến mất khi kháng thể của mẹ được thay thế bằng kháng thể riêng của bé. Tổn thương tim thường là bloc dẫn truyền, gây ra nhịp tim chậm. Trường hợp này đôi lúc cần phải đặt máy tạo nhịp. Mới đây, đó chỉ là một biến chứng rất nặng chỉ xuất hiện ở một số rất ít người mẹ có mang kháng thể kháng Ro.

Cho con bú

Cho con bú không có vấn đề gì lớn ở người mẹ bị bệnh lupus. Đương nhiên, một số thuốc sử dụng có thể đi qua sữa mẹ và có thể gây độc cho em bé. Điều này cần phải được đánh giá từng trường hợp. Các thuốc corticoid không có vấn đề gì đối với em bé bú mẹ.

CHƯƠNG 8 : BỆNH LUPUS CÓ DI TRUYỀN SANG CON KHÔNG ?

Lupus không phải là một bệnh lý di truyền, do đó những đứa trẻ có cha hoặc mẹ bị bệnh lupus thì khả năng chúng mắc là cực kỳ thấp. Tuy nhiên, có một số trường hợp ngoại lệ của bệnh lupus, nhưng thật ra đó chỉ là sự kết hợp những bất thường về gen do khiếm khuyết proteine của bổ thể. Thật ra, có những trường hợp bệnh lupus mang tính gia đình. Không hiếm trường hợp tìm thấy anh chị em của người bị bệnh lupus có những bất thường về sinh học( không có triệu chứng) như sự hiện diện của kháng thể kháng nhân. Hiện nay, có những nghiên cứu về chất liệu di truyền đang được thực hiện trên những trường hợp lupus có tính gia đình đã cho phép khu trú những vùng khác nhau của nhiễm sắc thể có kết hợp ít nhiều đến biểu hiện bệnh. Hiện nay, người ta vẫn chưa xác định rõ gien nào là tác nhân gây ra bệnh lupus, nhưng việc đánh giá về gien ở người bị bệnh lupus đã cho thấy có bước tiến bộ rõ rệt trong sự hiểu biết về bệnh.

CHƯƠNG 9 : BỆNH LUPUS Ở TRẺ EM

Rõ ràng là việc chẩn đóan bệnh lupus ở trẻ em sẽ gây ra quan ngại cho cha mẹ chúng. Việc chẩn đoán bệnh lupus ở trẻ em là vấn đề nhạy cảm và khác với chẩn đoán lupus ở người lớn. Việc chẩn đoán rất khó khăn ở những bệnh nhân trẻ vì đây là bệnh hiếm gặp ở trẻ, đặc biệt xuất hiện trước tuổi dậy thì. Dạng thường gặp nhất của bệnh lupus mà người ta gọi là « lupus sơ sinh» đây là bệnh được quan sát tình cờ ở trẻ sinh ra từ người mẹ có kháng thể kháng Ro/SSA. Về mặt nguyên tắc, bệnh lupus không có tiên lượng khác nhau giữa trẻ em và người lớn. Trẻ em không có nguy cơ gia tăng về bệnh thận và tự kháng thể như người lớn. Ngọai lệ, một số trẻ em mang mầm bệnh lupus đỏ có giảm yếu tố bổ thể trong máu. Những đứa trẻ này có thể bị bệnh lupus rất sớm trong thời niên thiếu.Thường nhất, bệnh lupus ở trẻ xuất hiện vào lứa tuổi biết đi ở bé gái. Hiếm gặp dạng lupus điển hình, thường là trẻ mệt mỏi không giải thích được kèm sốt, đau và viêm khớp. Những dấu hiệu này thu hút sự chú ý của người thầy thuốc và cần làm những xét nghiệm để xác định. Lupus ở trẻ em không phải trường hợp nào cũng là di truyền như trong các bệnh ưa chảy máu, bệnh cô đặc chất tiết. Chắc chắn những đứa trẻ sinh ra từ cha mẹ mắc bệnh tự miễn, đặc biệt là bệnh lupus thường có nguy cơ cao mắc bệnh này. Tuy nhiên, tính di truyền mang tính đa gien (tức nhiều gien), và nguy cơ cũng cao hơn so với dân số chung vẫn cực kỳ thấp. Vì vậy không thể làm xét nghiệm một cách đại trà những đứa trẻ không có triệu chứng để tìm kháng thế kháng nhân. Chỉ làm xét nghiệm nếu như trên lâm sàng trẻ có những than phiền. Điều trị bệnh lupus ở trẻ em không khác gì so với điều trị ở người lớn. Dùng corticoïdes là không có lợi vì có ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của trẻ. Thường điều trị cách ngày để giảm bớt ảnh hưởng lên sự phát triển.
BSGĐ

-->đọc tiếp...

/
Chào các bạn, bạn đã vào trang Benhtimmach.com chưa, đây là trang tư vấn sức khoẻ miễn phí chuyên sâu về lĩnh vực tim mạch click here