Chào các bạn, mời bạn quảng cáo banner tại đây kích thước 500x70 - giá mềm 700.000/tháng. liên hệ suckhoegd@gmail.com. Mr.Cường



| 0 tin nhắn ]

Một kỹ thuật xét nghiệm máu mới vừa được trình bày tại hội nghị ung thư sinh dục - phố San Fransisco (Mỹ) đã cho thấy xét nghiệm này có thể giúp chẩn đoán một cách chính xác bệnh ung thư tuyến tiền liệt hơn so với kỹ thuật xét nghiệm máu hiện nay. Điều này có thể giúp bệnh nhân tránh được những thủ thuật sinh thiết không cần thiết để chẩn đoán.

Kỹ thuật này được các nhà khoa học tại Công ty dược phẩm Panacea phát triển dựa trên xét nghiệm máu đo nồng độ một loại protein gọi là HAAH. So với kỹ thuật xét nghiệm máu hiện nay để định lượng protein PSA, xét nghiệm này có độ nhạy 95% và độ đặc hiệu 93% (trong khi đó PSA có độ nhạy 30% và độ đặc hiệu 40%). Vì vậy, nó đã làm giảm số trường hợp sinh thiết không cần thiết từ 75% xuống 10%.

Theo bác sĩ Eric A Klein, trưởng khoa ung thư tiết niệu tại Cleveland Clinic, đồng thời là người phát ngôn cho Hiệp hội Ung thư lâm sàng Mỹ (ASCO), nếu được FDA chấp thuận, nó sẽ là một xét nghiệm giúp chẩn đoán chính xác ung thư tuyến tiền liệt.
(VNDOC 's Blog - Theo TT)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Xét nghiệm là một ngành mới, nhưng đã tiến rất nhanh. Có một điều rõ ràng là nếu không cẩn thận, càng dùng máy móc càng sai! Bởi máy móc có thể cho ra hàng loạt kết quả xét nghiệm, con người lại có tâm lý ỷ lại vào máy, nhưng thực tế là nếu không kiểm tra máy nó sẽ cho hàng loạt kết quả sai.

Tôi cảm thấy rất đau xót cho bệnh nhân hiện nay: tốn máu, tốn tiền oan. Một buổi sáng có khi đi lấy máu, xét nghiệm máu mấy lần. Nhiều người đã cắt đôi các test kiểm tra để có thể dùng một test hai lần, làm kết quả xét nghiệm không chính xác, mà tôi đang nói đến chuyện chưa có chuẩn xét nghiệm, các cơ sở y tế chưa công nhận xét nghiệm của nhau, làm tốn tiền, tốn máu, tốn thời gian của người bệnh.

"Máy móc của chúng ta là sọt rác của thế giới"- một người bạn trong nghề đã nói với tôi như thế, về chuyện chúng ta thường phải dùng những máy móc cũ, người ta không dùng nữa. Tôi không tán thành hoàn toàn vấn đề này nhưng rõ ràng đã nói đến chất lượng xét nghiệm 20 năm nay rồi mà vẫn phải nói là làm chưa tốt.

Ai cũng nói đến kiểm tra chất lượng máy xét nghiệm y khoa. Thực tế, đây phải là việc làm thường xuyên như tra dầu mỡ, rửa xe với người dùng xe máy. Nhưng thực tế số phòng xét nghiệm có kiểm tra thường xuyên chưa nhiều. Việc kiểm chuẩn chất lượng xét nghiệm còn tiến hành trên lĩnh vực con người, máy móc, hóa chất xét nghiệm, lấy bệnh phẩm, xem hóa chất quá hạn có bỏ đi không hay tiếp tục dùng, dẫn tới sai lệch kết quả xét nghiệm. Các phòng xét nghiệm phải tự thực hiện việc này hằng ngày (nội kiểm tra) và kiểm tra lẫn nhau (ngoại kiểm tra). 

Theo tôi, tổ chức các phòng xét nghiệm chuẩn không quá khó. Trong khám chữa bệnh, hai lĩnh vực dễ "kiếm tiền" nhất là xét nghiệm và bán thuốc. Các "đại giáo sư” cũng không thể thu 1 triệu đồng/lần khám bệnh, nhưng có thể thu vài triệu tiền xét nghiệm mà người bệnh vẫn không biết cần thiết hay không, đúng hay sai. Vì thế, cần có một trung tâm kiểm chuẩn làm "trọng tài xét nghiệm". Trong khi chờ trung tâm này, các bệnh viện có thể liên kết để kiểm tra kết quả xét nghiệm lẫn nhau.

(VNDOC 's Blog - Theo TT - PGS.TS HOÀNG VĂN SƠN (ủy viên ban chấp hành Hội Hóa sinh VN)

-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Sau bài báo "Xét nghiệm y khoa sai: người bệnh dài cổ chờ khắc phục", tòa soạn báo Tuổi Trẻ tiếp tục nhận được những ý kiến phân tích vấn đề này. Xin giới thiệu hai ý kiến nói về khâu lấy mẫu xét nghiệm.

Khó hiểu

Xét nghiệm nước tiểu giúp chẩn đoán một cách tương đối chính xác các bệnh lý về thận, gan, tuyến nội tiết, chuyển hóa của các chất trong cơ thể, về thai sản, sự bài tiết của các thuốc đưa vào cơ thể, chẩn đoán nhiễm khuẩn, ký sinh trùng. Tùy theo yêu cầu xét nghiệm mà có cách lấy nước tiểu cụ thể. Ở đây chỉ nêu hai trường hợp lấy nước tiểu. 

Với cách lấy mẫu nước tiểu gửi làm xét nghiệm phân tích thông thường phải rửa sạch cơ quan sinh dục ngoài, cho bệnh nhân tiểu bỏ nước tiểu đầu, chỉ lấy phần giữa, cho vào lọ sạch vô trùng gửi ngay cho phòng xét nghiệm.

Còn với cách lấy mẫu nước tiểu 24g thì trong bình đã có chất bảo quản sẵn (không được đổ đi). Ban đầu đi tiểu bỏ hết. Sau đó trong thời gian này tiểu được bao nhiêu cho hết vào bình, lắc đều sau đó mang đến phòng xét nghiệm, ghi thời gian lấy mẫu trong 24 giờ…

Tuy nhiên đôi khi gặp phải các sai sót chủ quan làm ảnh hưởng kết quả xét nghiệm. Đó là do nhân viên xét nghiệm không hướng dẫn bệnh nhân, hoặc có hướng dẫn nhưng qua loa, chủ quan, khó hiểu. Cũng có thể do người bệnh chủ quan, làm không đúng theo lời dặn: ghi sai thể tích của nước tiểu 24 giờ hoặc lấy không đủ cho 24 giờ vì bận rộn công việc chẳng hạn. Có khi lại do bác sĩ điều trị không hướng dẫn người bệnh ngưng thuốc khi làm xét nghiệm, hoặc kiêng cữ thực phẩm, thuốc có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm…

Do đó để có một kết quả xét nghiệm chuẩn, chính xác thì giai đoạn chuẩn bị, lấy mẫu rất quan trọng, phải tuân theo đúng qui trình xét nghiệm đã được hướng dẫn cụ thể rõ ràng, dễ thực hiện.

DS NGUYỄN THANH TÒNG
(phó giám đốc Trung tâm chẩn đoán y khoa Medic)

Chung chung

Đã nhiều năm trôi qua, các ngành hữu quan dường như vẫn loay hoay với việc soạn dự thảo, xây dựng lộ trình... mà chưa có hành động cụ thể nào chấn chỉnh lại việc thực hiện các xét nghiệm để đảm bảo cho ra các kết quả chính xác nhất. Và quan trọng là đạt được các chuẩn mực mà nhiều bệnh viện, nhiều bác sĩ tin tưởng. 

Xin hãy bắt tay vào các việc đơn giản nhất, không cần dự thảo, không cần xin ý kiến của ban ngành nào cả. Ví dụ ở khâu đầu tiên là lấy mẫu bệnh phẩm (có khoảng sai số lớn nhất là 68% - báo Tuổi Trẻ 13-2). Theo tôi, chỉ cần các nhân viên y tế đem hết các điều đã học từ sách vở, từ nhà trường để áp dụng vào thực tế của bệnh viện hay phòng xét nghiệm là đã giảm thiểu đáng kể những sai sót này. Thật vậy, chúng ta dễ dàng bắt gặp những lời phán bảo chung chung của nhân viên y tế:

- Lấy phân vào lọ này, mai mang tới .

- Đi tiểu vào đây rồi đem để đằng kia nha!

- Sáng mai nhịn ăn sáng, có mặt ở đây lúc 7g để lấy máu nghe.

Do thiếu hướng dẫn rõ ràng và cẩn thận, bệnh nhân đã lấy các mẫu không đúng nguyên tắc, việc cho ra kết quả không chính xác là điều đương nhiên!

Chúng tôi đã gặp những trường hợp như sau: bệnh nhân lấy mẫu phân từ chiều hôm trước, và đợi đến sáng hôm sau mới mang đến phòng xét nghiệm. Bệnh nhân khác thì đi cầu bình thường trong bồn cầu, rồi lấy mẫu từ dưới bồn lên. Trường hợp khác lại lấy nước tiểu khi đang kỳ kinh nguyệt. Khi được dặn nhịn ăn sáng để lấy máu xét nghiệm, thì chỉ nhịn ăn nhưng vẫn uống cà phê sữa hay không ăn sáng mà ăn lúc khuya thôi!

Rõ ràng vai trò của nhân viên y tế vô cùng quan trọng, góp phần đem đến sự chính xác cho các kết quả xét nghiệm. 

MAI TRANG
(nhân viên y tế quận 1)

-->đọc tiếp...

| 1 tin nhắn ]




Xét nghiệm máu bằng hệ thống xét nghiệm tự động sinh hóa - miễn dịch Cobas-6000 của Hãng Roche được chuẩn hóa quốc tế theo tiêu chuẩn ISO 9100 vừa được trang bị tại Trung tâm y khoa Medic, nơi được đánh giá uy tín nhất hiện nay  

Trung tâm Kiểm chuẩn xét nghiệm TP.HCM thực hiện một cuộc kiểm tra chất lượng xét nghiệm sinh hóa tại 50 phòng xét nghiệm, thì đã có đến 41 phòng có kết quả vượt ra ngoài sai số cho phép. Chuyện xét nghiệm sai là tai họa cho người bệnh, cho bác sĩ và là vấn nạn của ngành y tế VN.

Dược sĩ TRẦN HỮU TÂM- giám đốc Trung tâm Kiểm chuẩn xét nghiệm TP.HCM - cho biết: TP hiện có 249 khoa xét nghiệm tại bệnh viện và phòng xét nghiệm tư nhân. 

Trung tâm đã thực hiện ngoại kiểm tra chất lượng xét nghiệm sinh hóa tại 50 phòng xét nghiệm, thì 41 phòng (82%) có kết quả vượt ra ngoài sai số cho phép. 

Dược sĩ Trần Hữu Tâm giải thích: tuy nhiên phải hiểu cho đúng về con số 82% này. Vì không phải tất cả xét nghiệm thực hiện tại các phòng xét nghiệm nêu trên đều vượt ngoài sai số cho phép, mà chỉ cần một xét nghiệm ra ngoài khoảng cho phép là chúng tôi đã xếp vào nhóm lệch kết quả. 

* Vì sao kết quả xét nghiệm lại vượt sai số cho phép? Người bệnh bị ảnh hưởng thế nào bởi những kết quả sai đó?

- Qui trình xét nghiệm được chia thành ba giai đoạn: trước, trong và sau xét nghiệm. Chỉ cần sai sót của một khâu ở một trong các giai đoạn trên là có thể gây sai số. Có rất nhiều nguyên nhân làm ảnh hưởng kết quả xét nghiệm, như việc lấy mẫu bệnh phẩm, máy móc xét nghiệm, hóa chất, thuốc thử, thao tác của các kỹ thuật viên, ghi chép kết quả…Tuy nhiên, theo thống kê của các chuyên gia, sai số nhiều nhất (khoảng 68%) là ở giai đoạn trước xét nghiệm (lấy mẫu bệnh phẩm, bảo quản bệnh phẩm…) và sau xét nghiệm (ghi chép, trả kết quả cho bệnh nhân...). 

Nếu kết quả xét nghiệm không chính xác sẽ dẫn đến việc bệnh nhân bị chẩn đoán bệnh sai, còn bác sĩ ra quyết định điều trị không đúng. Điều này chắc chắn không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe bệnh nhân mà còn làm mất uy tín của bác sĩ và bệnh viện.

* Có biện pháp nào để giảm thiểu các sai số của phòng xét nghiệm không?

- Muốn giảm thiểu sai số phải chuẩn hóa tất cả các khâu trong công tác xét nghiệm. Kể cả những khâu đơn giản nhất nhưng có thể gây ra sai lầm lớn nhất, như ghi họ tên bệnh nhân để phân biệt mẫu bệnh phẩm. Dù máy móc có chính xác đến mấy, nếu ghi không đầy đủ thông tin cũng có thể dẫn đến nhầm lẫn kết quả. Để giảm thiểu sai số, chúng tôi đã dự thảo và trình Sở Y tế TP.HCM để ban hành bộ tiêu chuẩn về đảm bảo chất lượng trong xét nghiệm, tạm thời áp dụng cho các phòng xét nghiệm tại TP.


Các phòng xét nghiệm cũng phải quan tâm hơn việc định kỳ bảo trì máy móc, thiết bị; thực hiện công tác nội kiểm tra và ngoại kiểm tra chất lượng để phát hiện, tìm ra nguyên nhân và khắc phục sai số. Đối với bệnh nhân, phải trả lời chính xác họ tên, năm sinh, giới tính và thông báo đúng tình trạng bệnh của mình khi được cán bộ y tế hỏi; nghe thật kỹ thông tin của mình khi được gọi vào xét nghiệm để tránh nhầm lẫn.

* Ông có thể cho biết vì sao các bệnh viện không công nhận kết quả xét nghiệm của nhau? Điều này gây tốn kém rất nhiều cho bệnh nhân và gây lãng phí cho Nhà nước?

- Việc bệnh viện sau không chấp nhận kết quả xét nghiệm của bệnh viện trước như hiện nay có nhiều nguyên nhân. Về khách quan, phải cho bệnh nhân làm xét nghiệm lại vì thời gian làm xét nghiệm trước có thể quá lâu, không còn giá trị chẩn đoán hoặc có những xét nghiệm thay đổi theo từng thời điểm trong ngày... Nhưng cũng có nguyên nhân chủ quan là do công tác đảm bảo chất lượng xét nghiệm tại các bệnh viện chưa được quan tâm đúng mức. Cụ thể, đến nay Bộ Y tế vẫn chưa có qui chế chính thức về việc phải thực hiện công tác nội kiểm, ngoại kiểm, chuẩn hóa con người, định kỳ bảo trì máy móc xét nghiệm... tại bệnh viện. Do đó, việc thực hiện đảm bảo chất lượng và kiểm soát chất lượng tại các bệnh viện còn mang tính tự phát, chưa thành qui định bắt buộc. 

Trung tâm không xét nghiệm

Trung tâm Kiểm chuẩn xét nghiệm TP.HCM không có nhiệm vụ làm xét nghiệm, mà chỉ có nhiệm vụ triển khai các chính sách về đảm bảo chất lượng xét nghiệm và kiểm tra việc tuân thủ các chính sách này tại bệnh viện. Song song với việc kiểm tra trên hồ sơ và thực tế tại phòng xét nghiệm, trung tâm sẽ tiến hành công tác ngoại kiểm tra. Nếu phòng xét nghiệm nào có kết quả vượt quá khoảng sai số cho phép, chúng tôi sẽ cảnh báo để họ tìm ra nguyên nhân và khắc phục. Đồng thời tham mưu cho Sở Y tế trong việc xử lý những phòng xét nghiệm không tuân thủ nguyên tắc về đảm bảo chất lượng xét nghiệm.

Ngoài ra, từ trước đến nay vẫn chưa có một cơ quan làm nhiệm vụ trung gian để kiểm tra và công nhận việc tuân thủ các nguyên tắc trong đảm bảo chất lượng xét nghiệm tại bệnh viện. Điều đó dẫn đến tình trạng bệnh viện nào làm xét nghiệm thì bệnh viện đó tin, còn bệnh viện khác làm thì không tin. 

* Bao giờ khắc phục được những nguyên nhân chủ quan vừa nói, thưa ông? 

- Cũng như nhiều nước khác, phần lớn nguyên nhân gây ra các sai số trong xét nghiệm là do con người. Vì vậy trung tâm chúng tôi được Sở Y tế TP giao nhiệm vụ xây dựng lộ trình để các đơn vị thực hiện việc đảm bảo chất lượng xét nghiệm. 

Sắp tới chúng tôi sẽ mở thêm nhiều khóa tập huấn cho các phòng xét nghiệm để họ tự đánh giá về năng lực và tìm ra nguyên nhân khắc phục sai số trong các xét nghiệm sinh hóa; sẽ triển khai ngoại kiểm tra chất lượng xét nghiệm về huyết học, vi sinh, đông máu, nước tiểu; xây dựng bộ tiêu chuẩn về đảm bảo chất lượng xét nghiệm, các qui trình thao tác chuẩn trong xét nghiệm… để đưa các phòng xét nghiệm vào hoạt động qui chuẩn. Sau đó, trung tâm sẽ trình Sở Y tế ban hành qui định về việc liên thông và công nhận kết quả lẫn nhau giữa các bệnh viện tuân thủ các tiêu chuẩn về đảm bảo chất lượng xét nghiệm.

* Nếu người bệnh khiếu nại kết quả xét nghiệm của bệnh viện, họ có thể đến đâu để xét nghiệm lại nhằm xác định độ chính xác của kết quả xét nghiệm trước đó? 

- Ngành y tế sẽ thành lập Trung tâm Xét nghiệm y khoa (ở quận 7). Trung tâm này có chức năng thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu, cao cấp và làm nhiệm vụ trọng tài trong xét nghiệm. Nếu bệnh nhân khiếu nại kết quả xét nghiệm của bệnh viện nào đó, trong tương lai trung tâm này sẽ thực hiện xét nghiệm và tham mưu cho Sở Y tế TP giải quyết khiếu nại đó.

* Xin cảm ơn ông.

(VNDOC 's Blog - Theo TT)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Chụp CT đa mặt cắt bằng máy MSCT-16 tại Trung tâm y khoa Medic. Bác sĩ Phan Thanh Hải - giám đốc Medic - cho biết giá mỗi lần chụp từ 500.000-2 triệu đồng - Ảnh: N.C.T.

Cuối năm người ta lại tổng kết những thành tựu y khoa trong năm. Hàng loạt sản phẩm, máy móc, xét nghiệm mới, phương pháp điều trị mới ra đời. Thế nhưng những tiến bộ này thường phù hợp với người giàu vì giá thành cao. 

Thật vậy, trong lĩnh vực xét nghiệm, các máy móc hiện đại giúp cho ra những kết quả xét nghiệm chính xác và mau chóng, người ta có thể thử hàng loạt các chất trong cơ thể để chẩn đoán bệnh. 

Trong lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh, các máy chụp CT scan, MRI ngày càng tân tiến cho ra các hình ảnh như thể người bác sĩ đang sờ nắm, nhìn ngó một cách rõ ràng các bộ phận của con người, giúp chẩn đoán các bệnh được chính xác hơn. Nhưng ai cũng biết rõ ràng giá của các xét nghiệm này cao ngất ngưởng so với thu nhập của người nghèo, không chỉ tại VN mà tất cả các nước trên thế giới. 

Khi đi khám bệnh, bệnh nhân thường được tư vấn làm xét nghiệm này hay xét nghiệm khác, hay đôi khi chính bệnh nhân "yêu cầu" được chụp cái này hay cái kia để biết. Và dĩ nhiên là sau một cuộc khám bệnh, thường chi phí sẽ lên đến hàng triệu đồng chưa kể tiền thuốc. 

Điều đáng quan ngại là sau khi có kết quả bình thường, người đi khám bệnh sẽ in trong đầu rằng họ bình thường mà không biết rằng kết quả chỉ có giá trị trong khoảng thời gian tương đối chứ không vĩnh viễn.

Vậy thì vai trò của người bác sĩ lâm sàng, trái với nhiều người nghĩ, là hết sức quan trọng trong việc giúp bệnh nhân chọn lựa đúng xét nghiệm cần làm trong một rừng xét nghiệm hiện đại. Một bác sĩ lâm sàng giỏi sẽ hết sức lắng nghe câu chuyện bệnh của bệnh nhân, bằng kỹ năng khám bệnh của mình họ sẽ cố gắng tìm ra những dấu hiệu của một cơn bệnh nào đó đang tiềm ẩn trong cơ thể bệnh nhân. 

Sau khi đã chắc mình đoán đúng bệnh, bác sĩ sẽ chỉ định đúng xét nghiệm cần làm để nhằm chứng minh một cách chính xác bệnh. Trong trường hợp này, xét nghiệm dù mắc nhưng lại trở nên rẻ vì cho phép chẩn đoán chính xác bệnh sớm và người thầy thuốc sẽ có ngay trong tay phương án tối ưu để điều trị, tránh tình trạng điều trị dây dưa vừa tốn tiền vừa mất thời gian và nhất là làm suy sụp tinh thần của người bệnh.

Nhưng nếu người bác sĩ lâm sàng non tay nghề? Hầu hết các bệnh đều có chung một vài triệu chứng nào đó. Một khi không thể xác định được bệnh, bác sĩ sẽ có xu hướng cho bệnh nhân đi làm xét nghiệm bao vây. Nghĩa là làm thật nhiều xét nghiệm để hi vọng có được chẩn đoán. Khi đó bệnh nhân sẽ phải gánh chịu một chi phí rất lớn. Phân tích như trên để thấy một điều tưởng như mâu thuẫn nhưng lại đầy lý lẽ rằng khoa học càng tiến bộ, bệnh nhân càng vui mừng, nhưng có thật nhiều bác sĩ giỏi, người nghèo càng hạnh phúc hơn.

Một câu hỏi khác đặt ra là làm sao những người nghèo có thể tiếp cận các tiến bộ y khoa? Tự bản thân người bệnh là không thể, nhà nước cũng không thể bao cấp hết được, mong nhờ vào sự giúp đỡ của các tổ chức từ thiện là hết sức mong manh. Chỉ có một cách là nhiều người giúp một người thông qua các loại hình bảo hiểm y tế như cả thế giới đang làm.

(VNDOC 's Blog - Theo báo Tuổi Trẻ)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Đo tốc độ lắng máu là một xét nghiệm thực hiện để theo dõi một tình trạng viêm nhiễm hay theo dõi một bệnh lý ác tính nào đó, bệnh sốt thấp cấp, hoặc cơn nhồi máu cơ tim cấp.

Mặc dù đây là một xét nghiệm mang tính thường quy, tầm soát, nhưng lại rất cần thiết trong việc phát hiện và theo dõi bệnh lao, theo dõi quá trình hoại tử mô trong cơ thể, những rối loạn bệnh lí thuộc về thấp học (bệnh lí của khớp, gân, cơ vân, dây chằng ,.. và những cấu trúc liên quan), thậm chí còn có thể giúp Bác sĩ phát hiện ra những bệnh lí mà triệu chứng lâm sàng khá mơ hồ, không rõ ràng.

Nguy cơ lấy máu làm xét nghiệm là gì?

Nguy cơ của thủ thuật này, nói chung là không đáng kể, có thể :
Chảy máu nhẹ sau khi rút kim ra
Choáng nhẹ đầu
tạo khối máu bầm dưới da
nhiễm trùng, nhất là khi da có trầy xước nhiều
phải đâm kim nhiều lần trong trường hợp tìm tĩnh mạch khó khăn.

Một số điều khác cần quan tâm

Tỉnh mạch và động mạch có kích thước khác nhau ở mỗi bệnh nhân, thậm chí khác nhau ở mỗi bên của cùng một bệnh nhân, vì thế việc lấy máu có thế khó khăn ở một số người.

Kết quả bình thường:

(Theo phương pháp Westergren)

Người lớn :

- Nam dưới 50 tuổi : nhỏ hơn 15mm/giờ

- Nam trên 50 tuổi : nhỏ hơn 20mm/giờ

- Nữ dưới 50 tuổi : nhỏ hơn 20mm/giờ

- Nữ trên 50 tuổi : nhỏ hơn 30mm/giờ

Trẻ em :

- Trẻ nhũ nhi : 0 – 2 mm/giờ

- Trẻ sơ sinh đến trẻ dậy thì : trung bình 3 – 13 mm/giờ

Kết quả bất thường

Tốc độ lắng máu thường tăng trong những trường hợp sau đây :

- Bệnh thận

- Mang thai

- Bệnh thấp cấp

- Viêm khớp dạng thấp

- Thiếu máu nặng

- Bệnh giang mai

- Bệnh Lupus ban đỏ hệ thống

- Bệnh của tuyến giáp

- Bệnh lao

Tốc độ lắng máu tăng rõ ràng trong những bệnh sau đây:

- Viêm động mạch do tế bào khổng lồ - động mạch thái dương, động mạch não

- Đa u tuỷ

- Bệnh macroglobulin huyết (trong máu xuất hiện globulin miễn dịch bất thường)

- Bệnh tăng fibrinogen máu

- Viêm mạch máu hoại tử

- Bệnh đau cơ dạng thấp (các cơ bị đau và cứng lại, thường gặp ở người lớn tuổi)

Tốc độ lắng máu giảm so với bình thường gặp trong những bệnh sau :

- Suy tim xung huyết

- Máu tăng độ nhớt

- Giảm fibrinogen trong máu

- Giảm protein huyết tương (do bệnh lí của gan hay thận)

- Bệnh đa hồng cầu

- Bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm

Ngoài ra còn có một số yếu tố bệnh lí có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm, như:

- Viêm mạch máu dị ứng

- U nhầy nhĩ trái

- U nhầy nhĩ phải

- Viêm gan tự miễn

- Viêm nội mạc tử cung

- Bệnh viêm cân mạch có tăng bạch cầu ưa toan

- Bệnh viêm quầng da do nhiễm Streptococcus pyogen (vùng nhiễm viêm và phồng lên, tạo thành những mảng nhỏ đường kính vài cm)

- Viêm khớp dạng thấp trẻ em

- Bệnh “cựu chiến binh” : một bệnh nhiễm trùng phổi, gây sốt, đau ngực, khó thở..

- Bệnh viêm xương tuỷ

- Viêm vùng chậu

- Viêm ngoại tâm mạc

- Xơ hoá sau phúc mạc

- Tổn thương da do nhiễm nấm blastomyces (những vết loét như hạt cơm ở mặt, cổ, bàn tay, cánh tay, bàn chân...)

- Viêm tuyến giáp bán cấp

- Bệnh mô liên kết như xơ cứng bì ...
(Theo VNDOC 's Blog Sưu Tầm)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Aminocentesis là gì?

Đây là loại xét nghiệm trước khi sinh để xác định những tế bào bong ra từ bào thai trong dịch màng ối. Xét nghiệm này cho biết sự đột biến trong bộ nhiễm sắc thể người điển hình như Hội chứng Down (là sự đột biến nhiễm sắc thể gây ra tình trạng chậm phát triển trí tuệ và quá trình phát triển bất thường của cơ thể). Đồng thời, xét nghiệm còn cho biết sự rối loạn trật tự gen chẳng hạn như chứng xơ nang, và những khiếm khuyết ống thần kinh như tật ống sống chẻ đôi.

Tại sao bạn cần loại xét nghiệm này?

Xét nghiệm này không cần thiết cho tất cả phụ nữ mang thai. Tuy nhiên, xét nghiệm rất thích hợp nếu bạn ở từ 35 tuổi trở lên khi mang thai và nếu bạn có tiền sử bị khiếm khuyết sinh sản trong gia đình của bạn. Quy trình xét nghiệm aminocentesis được thực hiện sau khi kết quả xét nghiệm alpha-fetoprotein dương tính, hoặc để khảo sát hai lá phổi đã phát triển hoàn chỉnh chưa trong ca sinh non.

Khi nhận được lời khuyên của bác sĩ để làm xét nghiệm này thì không nhất thiết bạn cần thực hiện. Hãy tìm hiểu nhiều thông tin và cân nhắc những rủi ro mà xét nghiệm mang lại với lợi ích của việc biết kết quả. Nên tham khảo ý kiến với bác sĩ hoặc những chuyên gia tư vấn di truyền trước khi thực hiện xét nghiệm này.

Xét nghiệm này được thực hiện lúc nào?

Aminocentesis được thực hiện điển hình ở tuần 16 đến 18 của thai kỳ. Thời kỳ này đã có đủ tế bào trong dịch màng ối cần dùng. Đôi khi, xét nghiệm có thể được làm sớm hơn khi đang ở tuần 11 đến 14 của thai kỳ.

Thực hiện xét nghiệm ra sao?

Trước khi xét nghiệm, bạn sẽ được hướng dẫn làm rỗng bàng quang. Điều này sẽ làm giảm nguy cơ đâm thủng bàng quang để lấy nước tiểu thay vì dịch màng ối.

Điều gì xảy ra trong suốt quá trình xét nghiệm?

Bạn sẽ được sát trùng trên da bằng một bông gạc vô trùng, và được tiêm chất gây tê tại vùng da bị đâm thủng. Ban đầu, bạn có thể cảm giác như bị chích. Sau đó, bác sĩ sẽ dùng máy siêu âm để xác định vị trí bào thai và định vị nhau thai. Vừa theo dõi hình ảnh trên máy siêu âm, bác sĩ vừa đâm nhẹ nhàng một cây kim nhỏ và dài vào bụng của thai phụ để trích dịch màng ối từ ổ bụng.

Khi đã thu được dịch màng ối, các tế bào sẽ được nuôi trong môi trường thích hợp để kích thích phát triển trong vòng từ 1 đến 2 tuần. Sau đó, nhiễm sắc thể từ các tế bào này được khảo sát để cho ra kết quả cuối cùng. Vì vậy, kết quả của xét nghiệm sẽ không có ngay lập tức sau khi xét nghiệm được tiến hành.

Quy trình xét nghiệm này kéo dài bao lâu?

Chỉ tốn 10 phút cho việc lấy mẫu từ dịch màng ối của thai phụ.

Vậy thì thai phụ sẽ gặp những nguy hiểm gì khi thực hiện xét nghiệm?

Xét nghiệm này thông thường rất an toàn. Tuy nhiên, cũng có thể xảy ra nguy cơ bị sảy thai. Lời khuyên là bạn nên tư vấn với bác sĩ gia đình để biết thêm thông tin giúp bạn quyết định khi muốn thực hiện xét nghiệm.

Sau khi xét nghiệm, bạn cũng có thể bị các triệu chứng nhẹ như vọp bẻ, và nhiều vệt lốm đốm trên da. Hỏi bác sĩ những thông tin cần thiết về những triệu chứng có thể xảy ra cần theo dõi. Nói chung, bạn phải báo với bác sĩ ngay khi có dấu hiệu chảy máu âm đạo hoặc đau bụng kèm co cứng vì bị rò rỉ nước ối hoặc sốt. Bất cứ triệu chứng nào kể trên cũng được xem là biến chứng do xét nghiệm này gây ra.

Kết quả bình thường sau khi xét nghiệm là gì?

Xét nghiệm aminocentesis có độ tin cậy gần 99% nhằm xác định hội chứng Down. Và cũng cho độ tin cậy 90% khi xác định những rối loạn khác từ trật tự bộ gen. Nên nhớ không phải mọi xét nghiệm gen đều được thực hiện qua dịch màng ối. Hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để quyết định chính xác loại xét nghiệm nào cần thực hiện với dịch màng ối của bạn. Một dịch màng ối bình thường thì màu trong, nhưng khi thai gần đến ngày sanh có thể thấy xuất hiện những hạt nhỏ li ti gọi là chất gay.
(Theo VNDOC 's Blog Sưu Tầm)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Khái niệm

Xét nghiệm COOMB trực tiếp đo nồng độ kháng thể hiện diện trên bề mặt hồng cầu.

Xét nghiệm được thực hiện như thế nào?

Người lớn và trẻ em:

Máu sẽ được lấy từ tĩnh mạch,thường là ở mặt trong khủy tay hay trên mặt mu bàn tay. Vị trí lấy máu sẽ được sát trùng và phần trên cánh tay được buột dây garô để tạo áp lực cũng như hạn chế máu lưu thông trong tĩnh mạch. Phương pháp này giúp các tĩnh mạch phía dưới dây garô căng lên(chứa đầy máu). Một kim tiêm được đâm vào tĩnh mạch và máu lấy ra sẽ được chứa trong lọ kín hoặc trong ống tiêm(syringe). Trong quá trình lấy máu, dây garô được tháo ra để tái lập tuần hoàn. Sau khi lấy máu,kim tiêm sẽ được rút ra và vùng lấy máu được băng bó để giúp máu ngưng chảy.

Trẻ nhũ nhi hay trẻ nhỏ:

Vùng lấy máu được sát trùng và được đâm bằng một loại kim bén hay bằng lưỡi trích (lancet). Máu được đựng trong một pipette(ống thủy tinh nhỏ),trên lam,trên giấy thử, hoặc trong một lọ nhỏ. Có thể phải dùng bông hay băng ép lên vùng lấy máu nếu máu vẫn tiếp tục chảy.

Chuẩn bị trước khi làm xét nghiệm?

Người lớn:

Không cần thiết phải chuẩn bị gì đặc biệt.

Nhũ nhi và trẻ em:

Việc chuẩn bị về thể chất và tâm lý cho bệnh nhân đối với xét nghiệm này hay bất kỳ xét nghiệm nào khác phụ thuộc vào lứa tuổi của trẻ,thái độ, đã từng được xét nghiệm trước đó và mức độ tin tưởng của trẻ. Để có những thông tin chuyên biệt về cách chuẩn bị cho trẻ,hãy xem những bài chuyên đề sau(viết tương ứng với độ tuổi của trẻ):

- Các xét nghiệm ở trẻ nhũ nhi hay những chuẩn bị trước thủ thuật(từ lúc sinh đến 1 tuổi)

- Các xét nghiệm ở trẻ tập đi hay những chuẩn bị trước thủ thuật(từ 1 đến 3 tuổi)

- Các xét nghiệm ở trẻ mẫu giáo hay những chuẩn bị trước thủ thuật ( từ 3 đến 6 tuổi)

- Các xét nghiệm ở trẻ đang đi học hay những chuẩn bị trước thủ thuật (từ 6 đến 12 tuổi)

- Các xét nghiệm ở trẻ vị thành niên hay những chuẩn bị trước thủ thuật(từ 12 đến 18 tuổi)

Xét nghiệm có gây đau không?

Khi đâm kim tiêm vào để lấy máu,một số người thấy đau mức độ vừa,trong khi những người còn lại chỉ có cảm giác như khi bị côn trùng đốt hay chích. Sau đó,một số cơn đau nhói có thể xuất hiện.

Tại sao phải làm xét nghiệm?

Xét nghiệm COOMB trực tiếp dùng để phát hiện các tự kháng thể chống lại hồng cầu của chính người bệnh. Nhiều bệnh lý và thuốc (như quinidine, methyldopa, và procainaminde) có thể gây sản xuất các kháng thể trên.

Các loại kháng thể này đôi khi gây phá huỷ hồng cầu và dẫn đến thiếu máu. Phương pháp này thỉnh thoảng cũng được dùng để chẩn đoán nguyên nhân thiếu máu, vàng da, hoặc những bất thường về hình dạng hồng cầu trên kính hiển vi
Các yếu tố nguy cơ

- Chảy máu quá nhiều

- Choáng hoặc cảm giác chóng mặt

- Hematôm (khối máu tụ dưới da)

- Nhiễm trùng(luôn luôn có nguy cơ thấp bất cứ khi nào da bị mất toàn vẹn)

- Có thể đâm kim nhiều lần trước khi vào được tĩnh mạch
Những điều cần lưu ý

Các mạch máu có thể khác nhau về kích thước giữa bệnh nhân này với người khác hoặc từ vùng này sang vùng khác trên cùng một người. Do đó,việc lấy máu trên một số người có thể gặp nhiều khó khăn hơn những người khác.
Các giá trị bình thường

Bình thường khi không có ngưng kết (nghĩa là các tế bào không tụ lại nhau)
Các kết quả bất thường

Xét nghiệm Coomb trực tiếp dương tính cho thấy có kháng thể chống hồng cầu là biểu hiện của một số tình trạng sau:

- Thiếu máu tán huyết tự miễn (không có nguyên nhân cơ bản nào khác)

- Thiếu máu tán huyết do thuốc (có nhiều loại thuốc có liên quan đến biến chứng này)

- Chứng nguyên hồng cầu huyết ở trẻ sơ sinh (bệnh lý tán huyết ở trẻ sơ sinh)

- Bệnh tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn

- Nhiễm mycoplasma

- Giang mai

- Leucemia mạn dòng lympho hoặc các bệnh lý tăng sinh lymphô khác.

- Bệnh lupus đỏ hệ thống hoặc một bệnh viêm khớp khác

- Phản ứng truyền máu như trong trường hợp truyền nhầm nhóm máu.

Xét nghiệm này cũng bất thường trên một số người không có nguyên nhân rõ ràng, đặc biệt là ở người già. Tới 3% số bệnh nhân nhập viện không có bệnh lý về máu trước đó sẽ có Coomb trực tiếp dương tính.
(Theo VNDOC 's Blog Sưu Tầm)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Có nhiều loại vi trùng khi nhiễm vào cơ thể có thể khiến cơ thể phản ứng lại tạo ra kháng thể gây ngưng kết hồng cầu là agglutinin . Nếu phản ứng ngưng kết lạnh dương tính, rất nhiều khả năng cơ thể chúng ta đang nhiễm một loại vi trùng gây viêm phổi không điển hình hoặc đang nhiễm virus.

Nguy cơ :

· Chảy máu nhẹ sau khi rút kim ra

· Choáng nhẹ đầu

· Tạo khối máu bầm dưới da

· Nhiễm trùng, nhất là khi da có trầy xước nhiều

· Phải đâm kim nhiều lần trong trường hợp tìm tĩnh mạch khó khăn

Một số vấn đề khác cần quan tâm

Đó là nếu nghi ngờ bệnh nhân đang nhiễm một bệnh nào đó gây ngưng kết hồng cầu ở nhiệt độ lạnh, thì Bác sĩ cần giữ ấm cho bệnh nhân.

Kết quả bình thường

· Không xảy ra phản ứng ngưng kết nóng ở độ pha loãng kháng thể 1/80 trở đi

· Không xảy ra phản ứng ngưng kết lạnh ở độ pha loãng kháng thể 1/16 trở đi

Kết quả có ý nghĩa bệnh lí

Phản ứng ngưng kết nóng xảy ra trong những trường hợp sau đây

· Bệnh nhân bị nhiễm Brucella, một loại vi trùng lây từ gia súc, gây nhức đầu, mất ăn, mệt mỏi, sốt mãn tính, sưng hạch bạch huyết...

· Bệnh nhân bị nhiễm Rickettsia, một loại vi khuẩn đa hình, gây viêm các mao mạch nhỏ, hoại tử gây tổn thương ở da và một số cơ quan khác, gây sốt ...

· Bệnh nhân bị nhiễm Salmonella, gây bệnh thương hàn.

· Bệnh tularemia, còn gọi là bệnh ‘thỏ’, một loại bệnh con người lây từ thỏ và một số loài gặm nhấm khác.

Phản ứng ngưng kết lạnh lại có thể xảy ra trong những trường hợp dưới đây :

· Bệnh tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng

· Bệnh cúm

· Bệnh viêm phổi không điển hình

· Bệnh đa u tuỷ

· Bệnh nhiễm Mycoplasma pneumonia

· Bệnh xơ cứng bì

· Nhiễm trùng huyết do Staphylococcus - tụ cầu

· Nhiễm Cytomegalovirus CMV

· Thiếu máu tán huyết

· Sốt rét

· Xơ gan

· Giang mai bẩm sinh

· Bệnh viêm nút quanh động mạch

· Thuyên tắc phổi

· Bệnh nhiễm trypanosoma - một loại trùng roi kí sinh trong máu hoặc mô

· Viêm amyđan

· Sốt tinh hồng nhiệt, một loại bệnh do vi trùng thuộc họ liên cầu trùng Streptococcus gây ra

· Bệnh ngưng kết hồng cầu lạnh không rõ nguyên nhân – vô căn.
(Theo VNDOC 's Blog Sưu Tầm)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Giang mai là bệnh có thể dễ dàng chữa khỏi. Xét nghiệm này dùng để tầm soát những người có giấy triệu chứng của bệnh giang mai hay những bệnh lây truyền qua đường tình dục khác, xét nghiệm tầm soát giang mai là một xét nghiệm thường qui khi mang thai. Một số quốc gia cũng đòi hỏi tầm soát giang mai trước khi trao kết hôn.

Nguy cơ khi lấy máu làm xét nghiệm?

· Làm mất nhiều máu

· Choáng hay cảm thấy choáng váng

· Tụ máu dưới da( sưng bầm chỗ chích)

· Nhiễm trùng( nếu da bị tổn thương)

· Nhiều vết đâm vào tĩnh mạch

Những điều cần lưu ý

Xét ngihệm tầm soát bệnh giang mai là lấy máu. Nếu một người nào đó nghi ngờ bị giang mai não ( giang mai thần kinh), thì người ta lấy dịch não tuỷ đem làm xét nghiệm VDRL.

Giá trị bình thường

Giá trị âm tính của xét nghiệm tuỳ thuộc vào giai đoạn của bệnh giang mai. Xét nghiệm tầm soát giang mai thường có giá trị trong giang mai thời kỳ 2 và giang mai tiềm ẩn , và kết quả thường dương tính trong thời kỳ này. Giang mai thời kỳ 3 hay giang mai thời kỳ đầu thì xét nghiệm này thường âm tính giả và cần phải làm thêm xét nghiệm khác trước khi loại trừ bệnh giang mai.
Kết quả bất thường

Kết quả xét nghiệm dương tính là có khả năng bị giang mai. Nếu xét nghiệm tầm soát dương tính thì bước tiếp theo là làm thêm xét nghiệm để xác định như FTA-ABS đặc hiệu hơn cho bệnh giang mai .
(Theo VNDOC 's Blog Sưu Tầm)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Xét nghiệm này được thực hiện để phát hiện sự tăng acid uric trong máu. Sự tăng acid uric trong máu có thể là nguyên nhân gây ra bệnh gout.

Acid uric là sản phẩm cuối cùng của chuyển hoá purine (purines là thành phần cấu tạo của RNA và DNA). Hầu hết acid uric sản xuất trong cơ thể được bài tiết qua thận. Sự sản xuất quá mức acid uric xảy ra khi có sự phá huỷ tế bào hàng loạt hay thận không còn khả năng bài tiết acid uric.
Những giá trị bình thường:

Acid uric bình thường : 4.1 - 8.8 mg/dl

Các giá trị bình thường này có thể thay đổi đôi chút tuỳ theo phòng xét nghiệm.
Những kết quả bất thường

Sự tăng acid uric trên mức bình thường có thể gặp trong:

· Toan chuyển hoá

· nghiện rượu

· tiểu đường

· gout

· thiểu năng phó giáp

· ngộ độc chì

· bệnh bạch cầu

· sỏi thận

· suy thận

· nhiễm độc thai nghén

· ăn thức ăn có nhiều purine

· hoạt động quá mức

Acid uric thấp hơn mức bình thường gặp trong:

· Hội chứng Fanconi"s

· Bệnh Wilson"s

· SIADH

· Ăn ít purine

Những bệnh cần làm xét nghiệm này là:

· viêm khớp mãn tính

· tổn thương thận và niệu quản
(Theo VNDOC 's Blog Sưu Tầm)
-->đọc tiếp...

TSH
| 0 tin nhắn ]

Xét nghiệm TSH được xem như là xét nghiệm để tầm soát những bất thường của chức năng tuyến giáp.

TRH là một loại hormone được sản xuất từ vùng dưới đồi, kích thích tuyến yên phóng thích TSH. Đến lượt mình, TSH kích thích tuyến giáp sản xuất ra hormone tuyến giáp T3 và T4. Những hormone này (T3, T4) ức chế ngược lại vùng dưới đồi và tuyến yên giúp điều hoà sự phóng thích cả TSH lẫn TRH.

Trong một số bệnh, con đường điều hoà này bị ảnh hưởng, gây ra sự sản xuất hormone tuyến giáp bị thiếu hay sản xuất quá mức. Khi trên lâm sàng các bác sĩ nghi ngờ có rối loạn chức năng tuyến giáp, thì việc định lượng TSH trong máu là xét nghiệm được làm đầu tiên.
Các yếu tố nguy cơ

· chảy máu quá nhiều

· choáng hoặc cảm giác chóng mặt

· hematôm (khối máu tụ dưới da)

· nhiễm trùng(luôn luôn có nguy cơ thấp bất cứ khi nào da bị mất toàn vẹn)

· có thể phải đâm kim nhiều lần trước khi vào được tĩnh mạch.
Những điều cần lưu ý

Nhiều thuốc có thể ảnh hưởng đến lượng TSH bao gồm: thuốc kháng giáp, lithium, iode kali, amiodarone, dopamine và prednisone.

Các mạch máu có thể khác nhau về kích thước giữa bệnh nhân này với người khác hoặc từ vùng này sang vùng khác trên cùng một người. Do đó, việc lấy máu trên một số người có thể gặp nhiều khó khăn hơn những người khác.


Những giá trị bình thường

Tsh : 0.2 đến 4.7 mcU/ml

Giá trị bình thường thay đổi tuỳ theo phòng xét nghiệm.
Các kết quả bất thường.

Tsh tăng cao hơn mức bình thường có thể gặp trong:

· nhược giáp bẩm sinh( nguyên phát)

· nhược giáp thứ phát

· cường giáp lệ thuộc TSH

· kháng hormone tuyến giáp

TSH thấp hơn mức bình thường có thể gặp trong:

· cường giáp

· thiếu TSH
(Theo VNDOC 's Blog Sưu Tầm)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Những tên gọi khác



Xét nghiệm Thyroxine

Định nghĩa



Là xét nghiệm đo lượng T4 trong máu.

Xét nghiệm được thực hiện như thế nào?



Người lớn và trẻ em:



Máu sẽ được lấy từ tĩnh mạch,thường là ở mặt trong khủy tay hay trên mặt mu bàn tay. Vị trí lấy máu sẽ được sát trùng và phần trên cánh tay được buột dây garô để tạo áp lực cũng như hạn chế máu lưu thông trong tĩnh mạch. Phương pháp này giúp các tĩnh mạch phía dưới dây garô căng lên(chứa đầy máu). Một kim tiêm được đâm vào tĩnh mạch và máu lấy ra sẽ được chứa trong lọ kín hoặc trong ống tiêm(syringe). Trong quá trình lấy máu, dây garô được tháo ra để tái lập tuần hoàn. Sau khi lấy máu, kim tiêm sẽ được rút ra và vùng lấy máu được băng bó để giúp máu ngưng chảy.



Trẻ nhũ nhi hay trẻ nhỏ:



Vùng lấy máu được sát trùng và được đâm bằng một loại kim bén hay bằng lưỡi trích (lancet). Máu được đựng trong một pipette(ống thủy tinh nhỏ),trên lam,trên giấy thử, hoặc trong một lọ nhỏ. Có thể phải dùng bông hay băng ép lên vùng lấy máu nếu máu vẫn tiếp tục chảy.

Chuẩn bị gì trước khi làm xét nghiệm



Nhân viên y tế có thể khuyên người bệnh ngưng một số thuốc có thể làm ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm(xem phần những điều cần lưu ý).



Nhũ nhi và trẻ em:



Việc chuẩn bị về thể chất và tâm lý cho bệnh nhân đối với xét nghiệm này hay bất kỳ xét nghiệm nào khác phụ thuộc vào lứa tuổi của trẻ, thái độ, đã từng được xét nghiệm trước đó và mức độ tin tưởng của trẻ. Để có những thông tin chuyên biệt về cách chuẩn bị cho trẻ, hãy xem những bài chuyên đề sau(viết tương ứng với độ tuổi của trẻ):



- Các xét nghiệm ở trẻ nhũ nhi hay những chuẩn bị trước thủ thuật(từ lúc sinh đến 1 tuổi)



- Các xét nghiệm ở trẻ tập đi hay những chuẩn bị trước thủ thuật(từ 1 đến 3 tuổi)



- Các xét nghiệm ở trẻ mẫu giáo hay những chuẩn bị trước thủ thuật ( từ 3 đến 6 tuổi)



- Các xét nghiệm ở trẻ đang đi học hay những chuẩn bị trước thủ thuật (từ 6 đến 12 tuổi)



- Các xét nghiệm ở trẻ vị thành niên hay những chuẩn bị trước thủ thuật(từ 12 đến 18 tuổi).

Xét nghiệm có gây đau không?



Khi đâm kim tiêm vào để lấy máu, một số người thấy đau mức độ vừa, trong khi những người còn lại chỉ có cảm giác như khi bị côn trùng đốt hay chích. Sau đó, một số cơn đau nhói có thể xuất hiện.

Tại sao phải làm xét nghiệm này ?



Xét nghiệm này là một phần trong việc đánh giá chức năng tuyến giáp.



Chức năng cuả tuyến giáp khá phức tạp, tuỳ thuộc vào tác dụng của nhiều hormone khác nhau. Một số hormone như T3 có tác dụng trực tiếp trên chức năng của cơ thể. Các hormone khác có chức năng điều hoà sản xuất hormone, nhưng bản thân nó không có tác dụng về mặt sinh lý.



Hormon kích thích tuyến giáp (TSH) là một hormon được bài tiết từ tuyến yên, nó kích thích tổng hợp và bài tiết T4 (thyroxine) và T3 (triiodothyronine) từ tuyến giáp. TSH lại chịu sự kích thích của hormone khác là TRH, là hormone được phóng thích từ vùng dưới đồi.



T3 và T4 ức chế ngược trở lại cả TSH và TRH ở người có chức năng tuyến giáp bình thường. Hầu hết hormone tuyến giáp được bài tiết dưới dạng T4, nhưng T3 mới là dạng có hoạt tính, vì vậy T4 chuyển thành T3 ở mộ trong cớ thể.



T4 là hormone chính kiểm soát tốc độ chuyển hoá cơ bản của cơ thể. Cơ chế chính xác của hormone này vẫn chưa được biết rõ. Nhưng điều mà người ta biết rõ là T4 làm tăng nồng độ của nhiều enzyme liên quan đến việc sản sinh năng lượng trong tất cả các nhân tế bào của cơ thể.



Hầu hết T4 trong cơ thể gắn với protein; vì vậy chỉ có T4 tự do mới có tác dụng bên trong tế bào. Chỉ có 0.03% T4 và 0.3% T3 trong huyết tương ở dạng tự do. Đa số T3 và T4 gắn với globulin, được vận chuyển dưới dạng TBG ( là một globulin gắn thyroxine), nhưng có một lượng rất ít được gắn với prealbumin và albumin. Nồng độ T3 và T4 chịu ảnh hưởng bởi nồng độ TBG trong máu, được đo bằng xét nghiệm R3TU . Trong tế bào T4 chuyển thành T3 trước khi nó vào trong nhân và tương tác trực tiếp với DNA, kết quả là giúp tế bào sản xuất protein.

Các yếu tố nguy cơ



- Chảy máu quá nhiều



- Choáng hoặc cảm giác chóng mặt



- Hematôm (khối máu tụ dưới da)



- Nhiễm trùng(luôn luôn có nguy cơ thấp bất cứ khi nào da bị mất toàn vẹn)



- Có thể đâm kim nhiều lần trước khi vào được tĩnh mạch

Những điều cần lưu ý



Những thuốc có thể làm tăng nồng độ T4 trong cơ thể gồm: clofibrate, estrogens, methadone, amiodarone, và thuốc ngừa thai uống.



Những thuốc có thể làm giảm nồng độ T4 bao gồm :các steroid chống chuyển hoá, androgens, thuốc kháng giáp,( ví dụ như:propylthiouracil và methimazole), lithium, phenytoin, propranolol, amiodarone, interferon alpha, và interleukin-2.



Kích thước của tĩnh mạch và động mạch thay đổi tuỳ theo người, trên cùng một người cũng khác nhau. Do đó, viêc lấy máu ở những người này có thể khó khăn hơn so với những người khác.

Các giá trị bình thường



Giá trị bình thường thay đổi chút đỉnh tuỳ theo phòng xét nghiệm. T4 bình thường là :từ 4.5 đến 11.2 mcg/dl.

Các kết quả bất thường



Kết quả thyroxine cao hơn mức bình thường và TSH thấp hơn mức bình thường có thể gặp trong.



· Cường giáp



- Bệnh Graves" (hay Basedow)



- Nhân độc tuyến giáp



- Viêm tuyến giáp bán cấp hay mãn



- Bệnh Hashimoto"s giai đoạn sớm



- Cường giáp do ăn nhiều iode



- U tế bào mầm



- Bệnh lý lá phôi



Kết quả T4 thấp hơn mức bình thường có thể gặp trong:



· Nhược giáp ( gồm bệnh Hashimoto"s giai đoạn trễ, bệnh đần, phù niêm, bệnh bướu giáp, sau xạ trị bằng iode hay phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp, xơ cứng bì, xạ trị vùng cổ vì ung thư đầu cổ.)



· Giảm biến đổi T3 thành T4, gặp trong:



· Suy dinh dưỡng



· Bệnh hệ thống



· Nhịn đói



· Dùng một số thuốc như:dexamethasone, propranolol, lithium, iodine, methimazole, propylthiouracil, interferon alfa, interleukin-2, và amiodarone



Những bệnh cần phải làm xét nghiệm này là:



· Thiểu năng tuyến yên



· Nhược giáp : nguyên phát



· Nhược giáp : thứ phát



· Liệt chu kỳ do ngộ độc giáp

(Theo VNDOC 's Blog Sưu Tầm)
-->đọc tiếp...

T3
| 0 tin nhắn ]

Những tên gọi khác



Triiodothyronine; xét nghiệm miễn dịch phóng xạ T3.

Định nghĩa



Là xét nghiệm đo lượng T3 trong máu.

Xét nghiệm này được thực hiện như thế nào ?



Máu được lấy từ chích tĩnh mạch hoặc mao mạch.

Cần phải chuẩn bị gì khi làm xét nghiệm này ?



Cơ quan y tế sẽ yêu cầu bạn ngưng những thuốc có thể làm ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm ( xem “những điều cần lưu ý”).

Xét nghiệm này có đau không?



Khi đâm kim vào để lấy máu, một số người cảm giác đau vừa phải, một số khác cảm giác châm chích như côn trùng cắn. Cuối cùng, một số người khác cảm thấy hơi nhói đau.

Tại sao phải làm xét nghiệm này ?



Xét nghiệm T3 được xem như một phần trong đánh giá chức năng tuyến giáp. T3 được đo trong trường hợp nghi ngờ bệnh nhân có cường giáp hay nhược giáp sau khi đã làm xét nghiệm đo T4 và RT3U. Chẳng hạn trong một số trường hợp có triệu chứng của cường giáp nhưng đo T4 lại bình thường, lúc này cần phải được đánh giá thêm bằng cách đo T3.



TSH( là hormon kích thích tuyến giáp) bản chất là một hormone peptide được tuyến yên bài tiết ra. TSH sẽ kích thích tổng hợp và bài tiết T4 và T3 từ tuyến giáp. Trong khi đó bản thân TSH lại chịu sự kiểm soát ( kích thích ) bởi TRH, đây là một chất được phóng thích từ vùng dưới đồi. T3 và T4 ức chế ngược trở lại sự phóng thích cả TSH lẫn TRH trong trường hợp bình thường. Phần lớn hormone được tuyến giáp sản xuất dưới dạng T4, nhưng T3 hầu như mới là hormone có hoạt tính T4 lại chuyển thành T3 tại mô đích ( mô đích là những mô mà tại đó hormone có tác dụng).



T4 là hormone chính kiểm soát tốc độ chuyển hoá cơ bản của cơ thể. Cơ chế chính xác của hormone này vẫn chưa được biết rõ. Nhưng điều mà người ta biết rõ là T4 làm tăng nồng độ của nhiều enzyme liên quan đến việc sản sinh năng lượng trong tất cả các nhân tế bào của cơ thể.



Hầu hết T4 trong cơ thể gắn với protein; vì vậy chỉ có T4 tự do mới có tác dụng bên trong tế bào. Chỉ có 0.03% T4 và 0.3% T3 trong huyết tương ở dạng tự do. Đa số T3 và T4 gắn với globulin, được vận chuyển dưới dạng TBG ( là một globulin gắn thyroxine), nhưng có một lượng rất ít được gắn với prealbumin và albumin. Nồng độ T3 và T4 chịu ảnh hưởng bởi nồng độ TBG trong máu, được đo bằng xét nghiệm R3TU . Trong tế bào T4 chuyển thành T3 trước khi nó vào trong nhân và tương tác trực tiếp với DNA, kết quả là giúp tế bào sản xuất protein.

Những nguy cơ



Đó là những nguy cơ liên quan đến việc đâm kim.

Những điều cần lưu ý



Những thuốc có thể làm gia tăng lượng T3 trong máu bao gồm: clofibrate, estrogens, methadone, và thuốc ngừa thai uống.



Những thuốc có thể làm giảm lượng T3 trong máu bao gồm :steroid chống chuyển hoá, androgens, thuốc kháng giáp(ví dụ: propylthiouracil), lithium, phenytoin, và propranolol.

Các giá trị bình thường



T3 bình thường :100 - 200 ng/dl.



Các kết quả bất thường



T3 tăng cao hơn bình thường có thể gặp trong:



· Cường giáp



· Ngộ độc T3 ( hiếm)



· Viêm tuyến giáp



· Ung thư giáp



T3 giảm hơn mức bình thường có thể gặp trong:



· Bệnh lý mãn tính



· Nhược giáp(ví dụ : viêm giáp Hashimoto"s )



· Nhịn đói



Những bệnh khác cần làm xét nghiệm này là:



· Viêm giáp không đau



· Liệt chu kỳ do ngộ độc giáp



· Nhân độc tuyến giáp
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Tại sao phải làm xét nghiệm này?

Thực hiện xét nghiệm này khi nghi ngờ có thiếu sắt.

Khoảng 65% lượng sắt trong cơ thể là nằm trong hemoglobin ( trong tế bào hồng cầu) và khoảng 4% nằm trong myoglobin ( trong cơ vân). Khoảng 30% sắt trong cơ thể được dự trữ (dưới dạng ferritin hay hemosiderin) trong gan, tuỷ xương, và mạng lưới nội mô của tế bào lách. Một lượng nhỏ sắt trong cơ thể được chuyên chở trong nhiều thành phần khác của cơ thể ( kết hợp với transferrin) hay trong các thành phần enzyme của tế bào trong cơ thể. Sắt tự do thì tham gia rất nhiều phản ứng ( kích thích phản ứng gốc tự do) và bình thường không hiện diện trong dịch cơ thể.
Lượng sắt mất mỗi ngày là 1 mg (nam và phụ nữ sau mãn kinh) hay 1.8 mg (hay nữ tiền mãn kinh) trong nước tiểu hay máu kinh. Vì chỉ có khoảng 10 - 15% lượng sắt ăn vào hàng ngày được hấp thu, thường trong những tình huống tối ưu, lượng sắt trung bình hàng ngày khuyên dùng ( theo FDA) là 10 mg (đối với đàn ông và phụ nữ sau mãn kinh) và 18 mg (phụ nữ chưa mãn kinh). Phụ nữ mang thai thì lượng sắt này cần phải tăng lên, và thiếu sắt cũng thường gặp ở những

phụ nữ có thai.

Sắt huyết thanh được đo trong phòng xét nghiệm thực ra đó chỉ là transferrin có gắn ion sắt.Mỗi phân tử transferrin có thể vận chuyển 2 nguyên tử sắt. Bình thường, độ bảo hoà của transferrin là 30%. Khả năng gắn sắt tối ưu gọi là TIBC. Thực ra, khả năng này là đo transferrin trong huyết tương. TIBC và phần trăm bảo hoà transferrin được đo cùng lúc với sắt huyết thanh.
Các nguy cơ

· Mất nhiều máu

· Ngất hay chóng mặt

· Sưng bầm chỗ chích( tụ máu dưới da)

· Nhiễm trùng(xảy ra khi bất cứ lúc nào khi da không còn nguyên vẹn)

· Phải đâm kim nhiều lần
Những điều cần lưu ý

Những thuốc có thể làm tăng lượng sắt khi đo bao gồm:chloramphenicol, estrogens, thuốc ngừa thai uống, và methyldopa.

Những thuốc có thể làm giảm lượng sắt khi đo gồm:cholestyramine, chloramphenicol, colchicine, deferoxamine, methicillin, allopurinol, và testosterone.

Động mạch và tĩnh mạch có kích thước thay đổi từ bệnh nhân này sang bệnh nhân khác và những vùng khác nhau trên cùng một bệnh nhân cũng có những thay đổi. Cho nên việc lấy máu ở những người này có thể gặp khó khăn hơn so với những người khác.
Các giá trị bình thường

· Sắt (Fe): 60- 170 mcg/dl

· TIBC: 240 - 450 mcg/dl

· Độ bảo hoà transferrin : 20-50%

Chú thích: mcg/dl = micrograms/ decilit
Các kết quả bất thường

Lượng sắt trong huyết thanh cao hơn bình thường có thể gặp trong:

· Hemochromatosis

· Tán huyết

· Thiếu máu tán huyết

· Hemosiderosis

· Hoại tử tế bào gan

· Viêm gan

· Tạo hồng cầu không hiệu quả(ví dụ :thiếu Vitamin B12 , Vitamin B6 )

· Ngộ độc sắt

· Truyền máu nhiều lần

Sắt trong máu giảm hơn mức bình thường có thể gặp trong:

· Mất máu rĩ rả qua đường tiêu hoá

· Rong kinh, rong huyết

· hấp thu sắt không hiệu quả

· ăn uống thiếu sắt

· mang thai

Những bệnh cần làm thêm xét nghiệm này là :

· thiếu máu mãn
(Theo bacsigiadinh.com)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

PCR là gì?

PCR (Phản ứng chuỗi trùng phân) là một kỹ thuật then chốt trong di truyền học phân tử cho phép phân tích bất kỳ một đoạn ngắn nào của chuỗi ADN (hay của chuỗi ARN) mà không phải nhân dòng vô tính đoạn ADN đó. PCR được sử dụng để tái tạo (khuếch đại) những đoạn ADN chọn lọc. Trước đây, việc khuếch đại này được thực hiện nhờ những vi khuẩn và phải mất hàng tuần. Nhưng giờ đây với kỹ thuật PCR được thực hiện trong các ống nghiệm thì chỉ mất một vài giờ. PCR hiệu quả cao đến nỗi có thể tạo ra vô số bản sao của ADN. Ngoài ra, PCR sử dụng chính những phân tử mà thiên nhiên sử dụng để sao chép ADN:

Hai “phân tử mồi” để đánh dấu vị trí bắt đầu và kết thúc của chuỗi ADN cần sao chép.

Một enzym có tên là polymerase (enzyme đồng phân hóa) chạy dọc theo đoạn ADN đó, đọc mã của ADN và lắp ráp nên một bản sao của ADN.

Rất nhiều khối bazơ mà polymerase sử dụng để xây nên bản sao của ADN.

PCR được thực hiện như thế nào?

Như ảnh minh họa, kỹ thuật PCR gồm 3 bước chính. Ba bước này được lập đi lập lại từ 30 đến 40 lần. Các vòng lập lại được thực hiện trong một máy tự động. Máy này có nhiệm vụ làm nóng rồi lại làm nguội các ống nghiệm chứa hỗn hợp phản ứng. Mỗi bước biến tính (thay đổi cấu trúc), lắp nối và kéo dài xảy ra ở một nhiệt độ khác nhau.

1. Biến tính: Ở 94°C, chuỗi xoắn kép ADN sẽ tan ra và tách thành các chuỗi đơn.

2. Lắp nối: Ở 54°C, các cầu nối hydro giữa chuỗi đơn “mồi” và chuỗi đơn “khuôn” (chuỗi đơn khuôn sẽ cho khuôn mẫu để sao chép) sẽ được tạo thành rồi phá hủy. Chỉ những cầu nối chắc chắn nhất là còn tồn tại và trên đoạn ngắn ADN kép này, polymerase sẽ gắn lên và bắt đầu sao chép chuỗi đơn “khuôn”.

3. Kéo dài: Ở 72°C, polymerase hoạt động tốt nhất. Do đó, lực hút, tạo bởi các cầu nối hydro, giữa chuỗi mồi và chuỗi khuôn mạnh hơn lực phá vỡ chúng. Kết quả cuối cùng là các bazơ bổ sung cho chuỗi khuôn sẽ được gắn kết vào đoạn mồi.

Mục đích của PCR là gì?

Để thực hiện PCR, đoạn ADN nguyên thủy cần sao chép không cần phải thuần khiết hay hiện diện với số lượng nhiều. Đoạn ADN đó có thể thuần khiết nhưng cũng có thể là phần nhỏ của một hỗn hợp nhiều chất liệu. Do đó, PCR có công dụng vô cùng rộng rãi: chẩn đoán bệnh di truyền, làm vân tay ADN, tìm vi khuẩn và virus, nghiên cứu quá trình tiến hóa của loài người, sao bản ADN của một xác ướp Ai Cập, .v.v...Từ đó, PCR đã trở thành một công cụ thiết yếu cho các nhà sinh học, các phòng thí nghiệm ADN pháp lý, và nhiều phòng thí nghiệm khác nghiên cứu về vật liệu di truyền.

PCR đã được khám phá như thế nào?

PCR được phát minh bởi Kary Mullis. Trong thời gian Mullis đang có ý tưởng về PCR vào năm 1983, ông đang làm việc tại Emeryville, California for Cetus, một trong các công ty về công nghệ sinh học đầu tiên. Ở đó, ông được giao nhiệm vụ tạo ra các chuỗi ADN ngắn cho các nhà khoa học khác sử dụng. Mullis đã viết rằng ông ấp ủ ý tưởng về PCR khi đang dạo chơi một buổi tối nọ bằng môtô trên đường cao tốc 128 Pacific Coast. Ông đang nghĩ trong đầu về một phương pháp mới để phân tích các đột biến của ADN thì ông nhận ra rằng lẽ ra ông phải phát minh ra một phương pháp khuếch đại bất kỳ đoạn ADN nào. Mullis nói rằng trước khi chuyến dạo chơi bằng môtô kết thúc thì ông đã thấy được triển vọng về một giải Nobel. Năm 1993, ông đã chia đôi giải Nobel hóa học với Michael Smith.

Như Mullis đã viết trong tạp chí Scientific American:” Bắt đầu với chỉ một phân tử di truyền ADN duy nhất, PCR có thể tạo ra hàng trăm tỷ phân tử tương tự chỉ trong một buổi chiều. Phản ứng thực hiện khá dễ dàng, chỉ cần một ống nghiệm, một vài chất phản ứng đơn giản và một nguồn nhiệt.”

HCV-PCR là gì?

Đây là xét nghiệm PCR đối với siêu vi viêm gan C (HCV). Có 3 loại HCV PCR:

1. Xét nghiệm HCV-PCR phát hiện siêu vi: Xét nghiệm định tính này dùng để tìm xem siêu vi viêm gan C có hiện diện hay không.

2. Xét nghiệm HCV-PCR tải trọng siêu vi: Xét nghiệm định lượng này dùng để tìm siêu vi và ước đoán số lượng siêu vi trong mỗi ml máu.

3. Xét nghiệm HCV-PCR kiểu gen: Xét nghiệm này dùng để tìm siêu vi và định danh phân lớp HCV.

Ba xét nghiệm này có mục đích khác nhau. Xét nghiệm định tính dùng để khẳng định sự hiện diện của HCV trong máu của bệnh nhân sau khi có kết quả xét nghiệm kháng thể HCV dương tính. Xét nghiệm định lượng dùng để ước lượng thời gian điều trị cần thiết và theo dõi hiệu quả điều trị. Xét nghiệm kiểu gen thường được làm trước khi bắt đầu điều trị bởi vì nó có thể phân biệt từng phân lớp chính của HCV. Biết được phân lớp cũng là điều quan trọng, ví dụ như khi điều trị bằng interferon thì thường hiệu quả hơn trên những bệnh nhân nhiễm các phân lớp 2 hoặc 3 so với những bệnh nhân nhiễm phân lớp 1.

RT-PCR là gì?

RT-PCR (phản ứng chuỗi đồng phân hóa sao chép ngược) là một kỹ thuật có độ nhạy cao để tìm và định lượng mARN (ARN thông tin). Kỹ thuật này gồm 2 phần:

1) Tổng hợp cADN (ADN bổ sung) từ ARN bằng quá trình sao chép ngược (RT) và

2) Khuếch đại một cADN nào đó bằng PCR.

RT-PCR đã được FDA (Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ) công nhận là một xét nghiệm để đo tải trọng virus HIV. Nó cũng có thể được sử dụng cho các virus ARN khác như sởi, quai bị và metapneumovirus.
(Theo VNDOC 's Blog Sưu Tầm)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Là xét nghiệm đo lượng protein C trong máu
 
Xét nghiệm được thực hiện như thế nào?

Người lớn và trẻ em:

Máu sẽ được lấy từ tĩnh mạch,thường là ở mặt trong khủy tay hay trên mặt mu bàn tay. Vị trí lấy máu sẽ được sát trùng và phần trên cánh tay được buột dây garô để tạo áp lực cũng như hạn chế máu lưu thông trong tĩnh mạch. Phương pháp này giúp các tĩnh mạch phía dưới dây garô căng lên(chứa đầy máu). Một kim tiêm được đâm vào tĩnh mạch và máu lấy ra sẽ được chứa trong lọ kín hoặc trong ống tiêm(syringe). Trong quá trình lấy máu, dây garô được tháo ra để tái lập tuần hoàn. Sau khi lấy máu, kim tiêm sẽ được rút ra và vùng lấy máu được băng bó để giúp máu ngưng chảy.

Trẻ nhũ nhi hay trẻ nhỏ:

Vùng lấy máu được sát trùng và được đâm bằng một loại kim bén hay bằng lưỡi trích (lancet). Máu được đựng trong một pipette(ống thủy tinh nhỏ),trên lam,trên giấy thử, hoặc trong một lọ nhỏ. Có thể phải dùng bông hay băng ép lên vùng lấy máu nếu máu vẫn tiếp tục chảy.
Chuẩn bị gì trước khi làm xét nghiệm

Nhân viên y tế có thể khuyên người bệnh ngưng một số thuốc có thể làm ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm(xem phần những điều cần lưu ý).

Nhũ nhi và trẻ em:

Việc chuẩn bị về thể chất và tâm lý cho bệnh nhân đối với xét nghiệm này hay bất kỳ xét nghiệm nào khác phụ thuộc vào lứa tuổi của trẻ, thái độ, đã từng được xét nghiệm trước đó và mức độ tin tưởng của trẻ. Để có những thông tin chuyên biệt về cách chuẩn bị cho trẻ, hãy xem những bài chuyên đề sau(viết tương ứng với độ tuổi của trẻ):

- Các xét nghiệm ở trẻ nhũ nhi hay những chuẩn bị trước thủ thuật(từ lúc sinh đến 1 tuổi)

- Các xét nghiệm ở trẻ tập đi hay những chuẩn bị trước thủ thuật(từ 1 đến 3 tuổi)

- Các xét nghiệm ở trẻ mẫu giáo hay những chuẩn bị trước thủ thuật ( từ 3 đến 6 tuổi)

- Các xét nghiệm ở trẻ đang đi học hay những chuẩn bị trước thủ thuật (từ 6 đến 12 tuổi)

- Các xét nghiệm ở trẻ vị thành niên hay những chuẩn bị trước thủ thuật(từ 12 đến 18 tuổi).
Xét nghiệm có gây đau không?

Khi đâm kim tiêm vào để lấy máu, một số người thấy đau mức độ vừa, trong khi những người còn lại chỉ có cảm giác như khi bị côn trùng đốt hay chích. Sau đó, một số cơn đau nhói có thể xuất hiện.
Tại sao phải làm xét nghiệm này

Protein C và protein S có liên quan trong điều hoà quá trình đông máu( tạo cục máu đông); nó bất hoạt các yếu tố V và VIII. Thiếu những protein này có thể tạo thành cục máu đông trong động mạch hay tĩnh mạch.
Các yếu tố nguy cơ

- Chảy máu quá nhiều

- Choáng hoặc cảm giác chóng mặt

- Hematôm (khối máu tụ dưới da)

- Nhiễm trùng(luôn luôn có nguy cơ thấp bất cứ khi nào da bị mất toàn vẹn)

- Có thể đâm kim nhiều lần trước khi vào được tĩnh mạch
Những điều cần lưu ý

Protein C và Protein S bị giảm đi khi dùng thuốc chống đông máu nhóm kháng Vitamin K bằng đường uống ( như Coumadin, warfarin). Do đó đo nồng độ Protein C hay S có thể khó lý giải trên bệnh nhân đang dùng thuốc kháng đông. Trong suốt giai đoạn đông máu cấp tính, Proteins C và S thường bị giảm đi nếu sự giảm protein C hay S không phải là nguyên nhân gây huyết khối, và việc đo Protein C hay S có thể bị sai trước khi giai đoạn cấp đã khỏi.

Tỉnh mạch và động mạch có kích thước khác nhau ở mỗi bệnh nhân, thậm chí khác nhau ở mỗi bên của cùng một bệnh nhân, vì thế việc lấy máu có thế khó khăn ở một số người.
Các giá trị bình thường

Bình thường 60% đến 150%.
Các kết quả bất thường

Giảm protein C có thể là do đông máu quá mức. Cục máu đông có xu hướng tạo trong tĩnh mạch, chứ không ở động mạch.

Thiếu Protein C có thể là do di truyền hay mắc phải hay kết hợp với bệnh khác. Bệnh gan, đông máu nội mạch rải rác và hoá trị liệu có thể làm giảm lượng protein C trong máu.
(Theo VNDOC 's Blog Sưu Tầm)
-->đọc tiếp...

PSA
| 0 tin nhắn ]

Những tên gọi khác

Prostate-specific antigen, tức kháng nguyên đặc hiệu của tiền liệt tuyến
Định nghĩa

Là xét nghiệm đo lượng PSA trong máu.
Xét nghiệm này được tiến hành như thế nào ?

Máu sẽ được lấy từ tĩnh mạch, thường là ở mặt trong khủy tay hay trên mặt mu bàn tay. Vị trí lấy máu sẽ được sát trùng và phần trên cánh tay được buột dây garô để tạo áp lực cũng như hạn chế máu lưu thông trong tĩnh mạch. Phương pháp này giúp các tĩnh mạch phía dưới dây garô căng lên(chứa đầy máu). Một kim tiêm được đâm vào tĩnh mạch và máu lấy ra sẽ được chứa trong lọ kín hoặc trong ống tiêm(syringe). Trong quá trình lấy máu, dây garô được tháo ra để tái lập tuần hoàn. Sau khi lấy máu, kim tiêm sẽ được rút ra và vùng lấy máu được băng bó để giúp máu ngưng chảy
Cần chuẩn bị gì khi làm xét nghiệm này?

Thường không cần phải chuẩn bị gì đặc biệt, nhưng nếu nam giới đã có quan hệ tình dục trước đó trong vòng 24 giờ thì có thể cho kết quả PSA dương tính giả. Kết quả cũng có thể bị dương tính giả nế như bạn mới bị nhiễm trùng đường tiểu hay mới phẫu thuật đường niệu.

Bạn nên thảo luận kết quả xét nghiệm PSA của bạn với bác sĩ của mình, vì không phải lúc nào kết quả PSA cũng giống nhau ở mọi nam giới.

Xét nghiệm có gây đau không?

Khi đâm kim tiêm vào để lấy máu,một số người thấy đau mức độ vừa,trong khi những người còn lại chỉ có cảm giác như khi bị côn trùng đốt hay chích. Sau đó,một số cơn đau nhói có thể xuất hiện.
Tại sao phải làm xét nghiệm này ?

Xét nghiệm này giúp phát hiện sự hiện diện của PSA.

PSA bản chất là một glycoprotein (là protein có gắn đường glucose) được sản xuất từ những tế bào biểu mô của tiền liệt tuyến.Ở nam giới, PSA có thể được phát hiện ở nồng độ thấp.

Lượng PSA tăng cao ở những bệnh nhân bị ung thư tiền liệt tuyến, nhưng nó cũng có thể tăng trong một số bệnh lý khác của tiền liệt tuyến .
Các yếu tố nguy cơ

- Chảy máu quá nhiều

- Choáng hoặc cảm giác chóng mặt

- Hematôm (khối máu tụ dưới da)

- Nhiễm trùng(luôn luôn có nguy cơ thấp bất cứ khi nào da bị mất toàn vẹn)

- Có thể đâm kim nhiều lần trước khi vào được tĩnh mạch
Những điều cần lưu ý

Các bác sĩ khuyên tất cả nam giới trên 50 tuổi nên làm xét nghiệm PSA hàng năm. Còn những người đàn ông nào mà trong gia đình có người bị ung thư tiền liệt tuyến thì nên làm xét nghiệm PSA sớm hơn.
Các giá trị bình thường

Giá trị bình thường tuỳ theo tuổi. Đàn ông lớn tuổi có lượng PSA cao hơn người đàn ông trẻ. Đàn ông Mỹ da đen có lượng PSA cao hơn người Mỹ da trắng.

Trong nhiều phòng xét nghiệm, giá trị bình thường của PSA là dưới 4 ng/ml . Còn từ 4 đến 10 là giới hạn, và trên 10 là cao. Kết quả PSA cao không có nghĩa là ung thư, vì những bệnh khác của tiền liệt tuyến cũng có lượng PSA cao. Nếu một người nào đó có lượng PSA cao thì cần phải làm thêm các xét nghiệm khác.

Cuối cùng nên chú ý rằng xét nghiệm PSA là một xét nghiệm quan trọng để phát hiện ung thư tiền liệt tuyến, nhưng nó không phải là một xét nghiệm chẩn đoán chắc chắn. Xét nghiệm PSA không phải lúc nào cũng phát hiện được ung thư tiền liệt tuyến. Tuy nhiên, khám tiền liệt tuyến bằng tay qua hậu môn có thể giúp phát hiện ung thư tiền liệt tuyến
Các kết quả bất thường

PSA tăng cao hơn mức bình thường có thể gặp trong:

- Phì đại lành tính tiền liệt tuyến

- Ung thư tiền liệt tuyến

- Viêm tiền liệt tuyến

- Nhồi máu tiền liệt tuyến

- Nhiễm trùng đường tiểu

- Mới đặt thông tiểu

- Mới phẫu thuật đường tiểu
(Theo VNDOC 's Blog Sưu Tầm)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Phương pháp thử thai là một loại xét nghiệm máu hoặc nước tiểu để xác định một phụ nữ có mang thai hay không

Hãy xem các xét nghiệm sau:

· Định tính HCG trong nước tiểu

· Định tính HCG trong HCG trong huyết thanh

· Định lượng HCG

Xét nghiệm được thực hiện như thế nào?

Xét nghiệm định lượng hormôn hướng sinh dục từ nhau người(human chorionic gonadotropin-HCG) trong nước tiểu thường được thực hiện bằng cách nhỏ một giọt nước tiểu vào loại giấy có tẩm hoá chất sẵn. Xét nghiệm này thường mất một đến hai phút để giấy thử cho kết quả.

Các xét nghiệm định tính và định lượng trong huyết thanh được thực hiện bằng cách lấy máu gửi đến phòng xét nghiệm. Bạn có thể đi đâu chờ đợi trong vòng vài giờ hoặc hơn một ngày để nhận được kết quả.

Các xét nghiệm định lượng được sử dụng để đo đạc nồng độ HCG trong máu nhằm giúp bác sĩ có thêm nhiều thông tin hơn so với các xét nghiệm định tính.

Xét nghiệm có gây đau không?

Đối với xét nghiệm nước tiểu, bạn chỉ cần đi tiểu như bình thường vào một cái ly. Đối với xét nghiệm huyết thanh, bạn sẽ được rút máu bằng một ống tiêm và để vào một lọ nhỏ. Các cảm giác khó chịu nào (nếu có)trong khi lấy máu chỉ kéo dài trong vài giây.

Tại sao phải làm xét nghiệm?

Các xét nghiệm định tính

Phụ nữ bị trễ kinh thường thực hiện thử nước tiểu tại nhà. Các xét nghiệm định tính chỉ nói lên được phụ nữ có mang thai hay không. Các bộ thử thai tại nhà đang được bày bán tại nhiều tiệm thuốc tây và không cần phải có chỉ định của bác sĩ.

Đôi khi xét nghiệm được thực hiện tại phòng khám trong lần đi khám đầu tiên của sản phụ để khẳng định lại kết quả đã làm tại nhà. Các bác sĩ cũng làm xét nghiệm định tính nước tiểu cho sản phụ trước khi làm các thủ thuật hoặc kê đơn thuốc có thể gây tác hại cho thai nhi sau này.

Xét nghiệm định tính nước tiểu có thể phát hiện nồng độ HCG trên 25-50mIU/L. Các xét nghiệm định tính trong huyết thanh có thể phát hiện nồng độ HCG trên 5-10mIU/L.

Các xét nghiệm định lượng

Các xét nghiệm định lượng trong huyết thanh thường được thực hiện tại bệnh viện hay phòng khám. Đây là phương pháp đo nồng độ HCG trong máu với nồng độ thay đổi từ 5 mIU/L đến 2,000,000mIU/L hoặc cao hơn.

Xét nghiệm định lượng được thực hiện khi không đủ dự kiện để xác định người phụ nữ có mang thai hay không. Đôi khi, bác sĩ cần phải đối chiếu nồng độ HCG với giai đoạn mang thai của sản phụ.

Hãy yêu cầu bác sĩ giải thích về các kết quả xét nghiệm định lượng của bạn.
Các yếu tố nguy cơ

Không có một yếu tố nguy cơ về mặt y khoa nào liên quan đến xét nghiệm thử thai trên.
Những điều cần lưu ý

Các xét nghiệm thử thai bằng phương pháp định lượng trong nước tiểu chỉ dương tính khi nồng độ HCG trong máu đạt đến mức nhất định. Nếu bạn đang ở giai đoạn mang thai rất sớm và nồng độ HCG trong máu dưới 25-50mIU/mL, phương pháp này sẽ cho kết quả âm tính.

Vì lý do trên, nếu thấy trễ kinh, bạn nên chờ từ 7 đến 10 ngày trước khi thử làm xét nghiệm. Nếu kết quả âm tính, hãy đợi thêm vài ngày nữa. Khi đó, nếu bạn vẫn không có kinh thì hãy kiểm tra lại một lần nữa. Nếu kết quả vẫn âm tính và chu kì kinh của bạn không trở về bình thường, hãy đến gặp nhân viên y tế.
Các giá trị bình thường

Ở phụ nữ không mang thai, cả hai xét nghiệm định tính HCG trong nước tiểu và huyết thanh sẽ âm tính. Xét nghiệm định lượng HCG có kết quả dưới 5mIU/mL.

Đối với một phụ nữ mang thai, nồng độ HCG phải tăng trong suốt tam cá nguyệt đầu và sau đó giảm dần.
Các giá trị bất thường

Nồng độ HCG không tăng phù hợp báo hiệu một bất thường trong thai kỳ. Một số vấn đề liên quan đến sự tăng không phù hợp HCG bao gồm sẩy thai và thai ngoài tử cung.

Nồng độ HCG quá cao có thể gợi ý có sinh đôi.

Nhân viên y tế là người hiểu rõ ý nghĩa các kết quả về HCG và sẽ thảo luận điều đó với bạn.
(Theo BSGĐ)
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

· Xét nghiệm nước tiểu là gì ?

· Xét nghiệm nước tiểu nói lên điều gì?

· Xét nghiệm nước tiểu bao gồm những gì?

· Xét nghiệm đại thể nước tiểu là gì ?

· Xét nghiệm hoá học nước tiểu bằng que nhúng là gì?

· Ưu và khuyết điểm của que nhúng?

· Xét nghiệm vi thể nước tiểu là gì?

· Xét nghiệm vi thể nước tiểu được thực hiện như thế nào?

· Các loại tế bào nào có thể phát hiện được khi xét nghiệm nước tiểu?

· Tại sao có sự hiện diện của tế bào máu (hồng cầu) trong nước tiểu giữa dòng?

· Tại sao có sự hiện diện của tế bào bạch cầu trong nước tiểu giữa dòng ?


Xét nghiệm nước tiểu là gì ?

Xét nghiệm nước tiểu là phân tích nước tiểu.

Xét nghiệm nước tiểu nói lên điều gì ?

Xét nghiệm nước tiểu có thể cho thấy rõ bệnh lý, mà không nói lên được nguyên nhân gây ra triệu chứng. Tuy nhiên, xét nghiệm nước tiểu là một phần trong xét nghiệm thường qui trong kiểm tra sức khoẻ.

Chẳng hạn, có một số bệnh có thể được phát hiện khi làm xét nghiệm nước tiểu như : bệnh tiểu đường, bệnh thận(viêm vi cầu thận ) và nhiễm trùng đường tiểu mãn tính.

Xét nghiệm nước tiểu bao gồm những gì?

Xét nghiệm nước tiểu bao gồm quan sát đại thể nước tiểu( coi màu sắc nước tiểu) , xét nghiệm nước tiểu bằng các que nhúng, và xét nghiệm vi thể nước tiểu.

Xét nghiệm đại thể nước tiểu là gì ?

Xét nghiệm đại thể nước tiểu là quan sát trực tiếp nước tiểu, xem số lượng, màu sắc nước tiểu, đỏ, đục, lợn cợn...

Xét nghiệm nước tiểu bằng que nhúng là gì?

Đây là xét nghiệm có tính chất định lượng giúp trả lời có hay không có bất thường khi thử bằng que nhúng, xét nghiệm này làm trong vòng 1 phút. Màu sắc thay đổi biểu hiện trên que nhúng sẽ được đọc bằng cách so sánh với màu chuẩn qui định trên mẫu.

Xét nghiệm bằng que thử có thể được sử dụng để xác định độ pH của nước tiểu, độ đậm đặc của nước tiểu, đạm, đường, cetone, nitrite, heroin, thử thai và xác định có tính chất ước lượng số bạch cầu có trong nước tiểu.

Ưu và khuyết điểm của phương pháp xét nghiệm nước tiểu bằng que thử ?

Que thử có thể được làm bằng giấy, hay bằng chất dẽo và nó có một số thuận lợi. Thử bằng que nhúng đơn giản, nhanh chóng, dễ thực hiện, giá cả chấp nhận được, dùng được ở mọi nơi, tầm soát được dễ dàng.

Tuy nhiên, que nhúng cũng có mặt hạn chế của nó, vì chỉ có tính chất định tính chứ không định lượng.

Xét nghiệm vi thể nước tiểu là gì?


Là xét nghiệm nước tiểu dưới kính hiển vi. Xét nghiệm này đòi hỏi phải có kính hiển vi.

Xét nghiệm vi thể nước tiểu được thực hiện như thế nào?

Mẫu nước tiểu được lấy và mang đến phòng xét nghiệm, lấy một giọt nước tiểu nhỏ lên lam kính để quan sát.

Trước tiên, nước tiểu được cho li tâm sau đó xem dưới kính hiển vi, tìm các tinh thể, trụ, tế bào vẩy, vi trùng và các tế bào khác

Có thể phát hiện được loại tế bào nào trong nước tiểu ?

Tế bào biểu bì( tế bào vẩy), tế bào bạch cầu, hồng cầu có thể thấy được trong nước tiểu.

Tại sao lại có hồng cầu trong nước tiểu giữa dòng?

Tế bào hồng cầu có thể vào trong nước tiểu từ âm đạo do máu kinh, hay do chấn thương bàng quang khi đặt ống thông tiểu.

Mặt khác, tế bào hồng cầu có thể xuất hiện trong nước tiểu do một số nguyên nhân khác như: tổn thương thận, u làm trầy xát đường tiểu, sỏi thận, và nhiễm trùng đường tiểu.

Tại sao lại có sự xuất hiện của tế bào bạch cầu trong nước tiểu giữa dòng?

Các tế bào bạch cầu từ âm đạo hay lổ niệu đạo ( kể cả nam) có thể lây nhiễm vào mẫu nước tiểu xét nghiệm. Ngoài ra, nếu như bị nhiễm trùng, sẽ xuất hiện nhiều tế bào bạch cầu trong nước tiểu.

Nước tiểu có nhiều bạch cầu có thể là kết quả của nhiễm trùng đường tiểu như thận, bàng quang và ống dẫn tiểu (đường tiểu trên và dưới). Sự hiện diện bất thường tế bào bạch cầu trong nước tiểu làm cho nước tiểu trở nên đục giống như mủ (gọi là tiểu mủ).
(Theo VNDOC 's Blog Sưu Tầm)
-->đọc tiếp...

/
Chào các bạn, bạn đã vào trang Benhtimmach.com chưa, đây là trang tư vấn sức khoẻ miễn phí chuyên sâu về lĩnh vực tim mạch click here