Chào các bạn, mời bạn quảng cáo banner tại đây kích thước 500x70 - giá mềm 700.000/tháng. liên hệ suckhoegd@gmail.com. Mr.Cường



| 0 tin nhắn ]

Với người phụ nữ, không gì khổ hơn lấy chồng mà không có con. Ai cảm thông thì hỏi "Chồng còn quan tâm không? Có nói gì không?". Nhưng có người ác khẩu thì bảo "Thôi, không đẻ được thì để chồng đi lấy người khác".

Vừa kể, chị Đặng Thu Hoàn, 34 tuổi, ở khu đô thị Nam Thăng Long, Hà Nội, vừa rơm rớm nước mắt khi nhớ lại những tháng ngày đằng đẵng, mòn mỏi trong hành trình đi kiếm con của vợ chồng chị.

6 tháng sau khi cưới, không thấy dấu hiệu gì anh chị đã bắt đầu lo. Chị thì đi siêu âm, canh ngày trứng rụng, anh cũng tự đi kiểm tra. Rồi uống thuốc Bắc, Nam, ai bảo chỗ này mát tay, chỗ kia tốt anh chị cũng lặn lội đến tận nơi. Nhưng, một năm rồi hai năm mà bụng chị vẫn không thấy to lên.

"Mình mong một thì ông bà mong mười vì chồng mình là con trai duy nhất. Các cụ không nói nhưng mỗi khi xem quảng cáo thấy hình những em bé kháu khỉnh lại bảo 'Sau này, cháu nội bà cũng như thế'. Thỉnh thoảng lại khen đứa bé kia xinh quá", chị Hoàn cho biết.

"Nhà chỉ có 4 người lớn ra lại vào, không có tiếng trẻ con nên nó cứ thiếu thiếu thế nào ấy. Buồn mà không ai dám nói ra. 2 năm đầu chưa có con thì còn tự an ủi mình có muộn một tý, hai vợ chồng đi chơi. Nhưng đến năm 3, 4 thì không còn ham hố gì nữa", anh Hoàng, chồng chị Hoàn nói.

Vợ chồng chị Hoàn cùng hai bé Miu và Nghé. Ảnh: N.P.

Hai năm đầu thử có con theo cách tự nhiên không được, đến năm 2006, hai vợ chồng chị quyết định đi thụ tinh trong ống nghiệm. Chuyển đến 2 bệnh viện, 4 lần thụ tinh thì có đến 3 lần thất bại. Mỗi lần làm là một lần hy vọng, nhưng rồi lại thất vọng đến tột cùng khi nghe bác sĩ thông báo không đậu thai.

Những lúc đấy, hai vợ chồng chỉ còn biết ôm nhau khóc, tự an ủi nhau nhưng chưa một lần nào anh chị từ bỏ hy vọng. "Con cái là lộc trời cho. 5 năm lấy chồng mà không có con so với những người 10 năm, 15 năm đi cầu tự cũng chả thấm vào đâu. Có người phải vay tiền, đi xin trứng để làm, mình còn hy vọng sao không thử", chị Hoàn nói.

Bác sĩ Tô Mai Hương, Phó giám đốc Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội, Trưởng khoa hỗ trợ sinh sản cho biết, trung bình mỗi năm có khoảng hơn 10.000 người đến khám hiếm muộn. Họ vốn rất dễ tổn thương, chịu nhiều áp lực từ gia đình, xã hội nên tâm lý không thoải mái. Điều này càng làm cho quá trình thụ thai khó khăn hơn.

Tất cả bệnh nhân đến với khoa đều đặc biệt, mỗi người một hoàn cảnh. Hầu hết đã chữa thuốc nam, đông y rất nhiều thậm chí có những cặp còn đi xin con cầu tự khắp nơi… Chỉ đến khi mọi phương pháp không có kết quả họ mới đi thụ tinh trong ống nghiệm như một cơ may cuối cùng trong hành trình kiếm con, bác sĩ Hương cho biết.

Chị Linh, ở Gia Lâm, Hà Nội, một trong 10 người đầu tiên làm thụ tinh trong ống nghiệm tại bệnh viện (cũng là người sinh đầu tiên) tâm sự, suốt 3 năm chị đi chữa khắp nơi, uống thuốc, xông lá trầu không cửa mình, bị viêm rồi lại đặt thuốc, cứ như thế không biết nhiêu lần. Có đợt mấy tháng liền lên tận Đội Cấn đi nắn tử cung vì theo lời thầy tử cung chị bị cong, tinh trùng không lên được. Đi chữa tán loạn cả lên, nhưng đều không đem lại kết quả. Đến khi đi khám thì chị phải cắt một bên buồng trứng vì bị u nang, vòi trứng bị tắc.

Vợ chồng chị Linh cùng các bác sĩ Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Ảnh: N.H.

"Dù thế, tôi vẫn nghĩ mình may mắn vì sau 3 tháng mổ thông vòi trứng thì bệnh viện có chương trình thụ tinh lần đầu trong ống nghiệm. Cũng đắn đo, suy tính mãi vì mất mấy chục triệu mà không biết kết quả thế nào. Nhưng vẫn phải liều, bác sĩ đã nói tôi không thể có thai bình thường được", chị Linh kể lại.

Hồ sợ được bệnh viện chấp nhận, cả hai vợ chồng mừng lắm. Nhưng mọi việc không đơn giản, không phải đến một lần là xong. Hai vợ chồng vào viện liên tục, làm xét nghiệm xem có bệnh gì không, lấy trứng, tinh trùng, thử tinh trùng để phân loại... Khó khăn, vất vả nhất có lẽ là chuyện lấy tinh trùng của chồng.

"Đàn ông vốn đã ngại, lại phải tự lấy tinh trùng nên rất vất vả. Trong khi đó, phòng bệnh viện lại ồn ào. Mình ngồi ngoài đợi mà cũng thấy căng thẳng, nghe rõ cả tiếng xe máy, người nói, tiếng dao kéo lẻng xẻng. Chả trách đến gần nửa tiếng, mình mới thấy chồng ra", chị Linh vừa cười vừa nói.

Mọi chuyện suôn sẻ cho đến lúc đặt phôi và tử cung. Từ đó là giai đoạn hồi hộp nhất, chờ đợi từng ngày, giữ gìn, chị không dám đi đâu, chỉ quanh quẩn trong nhà, đi lại cũng rất khẽ khàng. Ngày lại ngày trôi qua một cách chậm chạp, 15 ngày nhưng chị có cảm giác như 15 năm. Đúng ngày hẹn, từ sáng sớm hai vợ chồng đến viện thử máu nhưng phải đến trưa mới có kết quả, lại phải đợi bác sĩ đọc.

"Đến khi biết thai đã đậu, tim mình như muốn vỡ tung vì vui mừng. Cả hai vợ chồng nhìn nhau khóc. Điều mình mong đợi suốt 3 năm qua đã thành sự thật, dù đó mới chỉ là 3 - 4 phần của 10%", chị Linh cho biết.

Thế nhưng có thai đã khó để giữ được thai càng khó hơn. Như trường hợp vợ chồng chị Hoàn, đến ngày thứ 8 bụng chị căng cứng, to lên như người mang thai tháng thứ 5.

Bác sĩ Tô Mai Hương, Phó giám đốc Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội, cho biết chị Hoàn bị quá kích buồng trứng, tràn dịch màng bụng. Gần một tháng chị phải nằm phòng hậu phẫu, tiêm, truyền liên tục.

"Tiêm truyền nhiều như thế chỉ sợ không giữ được em bé. Có lần hút dịch qua âm đạo thấy chảy máu, lo quá, chỉ sợ bao nhiêu công sức, bác sĩ cùng hai vợ chồng làm cho đến bây giờ lại đổ xuống sông xuống biển. Nhưng khi nhìn thấy khuôn mặt hạnh phúc của vợ chồng chị Hoàn, chúng tôi lại tự nhủ mình phải cố gắng để nụ cười đó không tắt", bác sĩ Hương kể lại.

Biết trong bụng mình có hai hình hài bé nhỏ đang dần lớn lên, nỗi vui mừng đó khiến chị Hoàn không hề cảm thấy đau dù ngày 2 lần sáng, chiều đều phải chọc, hút dịch. Anh cũng lây chung niềm vui của vợ nhưng trong lòng vẫn phập phồng lo sợ không biết có giữ được thai không.

"Lo nhưng không dám nói với vợ. Nhiều lúc nghĩ dại nhỡ không giữ được thì sẽ như thế nào. Thôi thì đành phó thác cho ông trời. Vợ vẫn cười nói dù đau, mình là đàn ông con trai cũng phải tỏ ra cứng rắn dù cho mọi chuyện có thế nào", anh Hoàng cho biết.

Theo bác sĩ Hương, niềm vui, tinh thần lạc quan của người mẹ đã tạo nên điều kỳ diệu. Bé gái ra đời trước 3 phút, được 3,4 kg còn bé trai nặng 2,6 kg, ra đời ngày 1/2/2009.

Giây phút đón 2 con còn đỏ hỏn từ tay bác sĩ, anh Hoàng vẫn không thể tin nổi niềm vui lại đến với mình bất ngờ và trọn vẹn thế. Sinh hai bé cùng một lúc, một trai một gái. Lúc đấy, cả hai vợ chồng chỉ biết nhìn nhau, khóc rồi lại cười. Bao nhiêu cảm xúc, lo lắng sợ hãi, hạnh phúc vỡ òa trong giây phút đó. Sau 5 năm lấy nhau, cuối cùng họ đã có con.

"Mình là con trai nên ít khi khóc nhưng lúc đó vui quá nên khóc thực sự. Tết đó nhà đông vui hẳn lên, có tiếng trẻ con mà. Giờ hai con đã hơn một tuổi, thi thoảng hai vợ chồng vẫn ôn lại chuyện cũ. Bé Nghé trào đời sau chị Miu nhưng giờ lại lớn phổng phao hơn", anh Hoàng vừa cười vừa nói

Còn với chị Linh, suốt thời gian mang thai chị không dám đi lại nhiều, chỉ nằm nhà cho an toàn, đi lại cũng phải rón rén. Đáng lý chị là ca sinh thứ 2 - 3 trong đợt đó nhưng lại thành ra sinh đầu tiên. 34 tuần đã sinh, con chỉ được 1,5 kg, nằm lồng kính 19 ngày.

"Lúc ra viện bé được thêm 4 lạng. Mấy tháng đầu nuôi cũng vất vả lắm vì nhỏ quá. Mới đầu, ông xã cũng không dám bế, chỉ sợ tay lóng ngóng làm rơi. Dù sao, có con đã là may mắn rồi, giờ cháu được gần 3 tuổi rất đáng yêu", chị Linh vừa nói vừa chỉ bức ảnh con cho xem.

Đến giờ chị vẫn không thể quên cái Tết đầu tiên, năm 2007 sau 4 năm trời nhà mới có tiếng trẻ khóc. Chị thấy cuộc sống có ý nghĩa và mục đích hơn. Không còn phải lo sống, làm việc để cho ai nữa. Khó khăn lắm chị mới có con, nên chị muốn làm thật nhiều để giành cho con. Tết năm nay, nhà chị lại có thêm một thành viên mới, một phép màu, một bé gái đáng yêu mà không phải nhờ thụ tinh.

"Không phải ai đến với chúng tôi rồi cũng ra về với nụ cười viên mãn. Có người đến 6 tháng rồi lại xảy thai, có người vào viện hết lần này đến lần khác mà vẫn lầm lũi đi về. Vì thế, mỗi lần đón một em bé ra đời, cả khoa lại vui như tết", bác sĩ Hương tâm sự.

-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Tôi 39 tuổi có hai con. Bé gái 28 tháng, bé trai 6 tháng. Sau khi sinh hai bé tôi hay bị chóng mặt, choáng váng, mắt mờ, mỏi, hơi đau đầu. Mang thai bé đầu tôi nặng 50kg (cao 151cm), sau đó tăng 13kg, sinh xong giảm dần còn 58kg. Mang thai bé thứ hai tôi tăng 9,5kg và hiện giờ là 63kg. Tôi muốn giảm cân từ từ, không ảnh hưởng đến việc cho bé bú.

THANH VY

Tập thể dục đi bộ để giảm béo phì sau sinh - Ảnh: N.C.T.

Phụ nữ mang thai hormone thai nghén sẽ tăng cường dự trữ mỡ để chuẩn bị nguyên liệu cho hai “nhà máy sữa” đi vào sản xuất. Nhiều bạn mang thai thực hiện đúng lời khuyên về dinh dưỡng, chỉ tăng chừng 10-12kg thì sau khi lâm bồn lượng mỡ dự trữ này còn tồn đọng dưới da bụng, vùng mông 3-5kg. Nếu ăn vừa đủ thì lượng mỡ này sau một năm mới mất dần, trả lại vóc dáng thon thả ban đầu.

Sau sinh, có bà mẹ ăn mỗi ngày 6-8 bữa cơm, chưa kể uống sữa với lời khuyên “uống sữa mới ra sữa”, chả khác gì “con ong ăn đường thì ra nhiều mật”, và năng lượng thừa được gan tổng hợp mỡ chở đến các “nhà kho” dự trữ. Nơi lỏng lẻo nhất là bụng, vì thế nhiều chị sau sinh bốn tháng lại có “cái bầu” mới chứa toàn mỡ.

Để tránh béo phì sau khi sinh, bạn ăn ba bữa chính đủ bốn nhóm thực phẩm (chất bột đường, chất đạm, chất béo, vitamin và chất khoáng) và theo dõi cân nặng, chỉ cần tăng 0,5kg là bạn đã phải giảm ăn đi một chút rồi. Có bạn ngoài ba bữa lại “giặm vá” thêm 1 lít sữa và quan niệm chỉ có cơm gây béo phì còn sữa thì không!

Song song với cách ăn là chuyển động cơ thể bằng cách đi lại, chăm sóc bé, nấu nướng. Bạn có thể đi bộ trong nhà chừng 20 phút, ngày hai lần. Sự chuyển động sẽ giúp tử cung co hồi tốt, sản dịch mau hết. Đừng nằm bất động một chỗ, chờ người nhà bưng cơm tận giường.

Trở lại vấn đề của bạn. Trong hai năm bạn sinh liền hai cháu, không có người phụ giúp, lại ở độ tuổi lớn hơn 35 thì không thể gọi là khỏe được. Rồi thức khuya, dậy sớm, ngủ không đủ, căng thẳng đã khiến các triệu chứng như chóng mặt, đau đầu, choáng váng, mờ mắt xuất hiện. Vì bận rộn với hai đứa bé nên bạn ăn uống không giờ giấc, bữa đói bữa no, ăn vội không kiểm soát được lượng thực phẩm nạp vào.

Stress như vậy làm rối loạn chuyển hóa mỡ và bạn dư 13kg so với trước đây là có cơ sở. Rối loạn chuyển hóa mỡ sẽ tạo cơ hội sinh ra những mảng vữa trong lòng mạch mà mạch não là nơi chúng có thể đóng lại. Thế là khi tim bơm máu, lượng oxy lên não không đủ dẫn tới choáng váng, đau đầu, chóng mặt.

Theo tôi, bạn nên nhờ người nhà phụ giúp trông cháu lớn, có chế độ ăn, ngủ khoa học và tranh thủ vừa chăm con vừa đi bộ trong nhà. Trong giai đoạn cho con bú chỉ cần mỗi tháng giảm 1kg là được.

TS.BS LÊ THÚY TƯƠI - TTO

-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Ảnh: MP.
Bé trai con chị Hằng đang được bác sĩ viện C chăm sóc. Ảnh: MP.

Bị tắc mạch ối, chị Hằng bỗng tím tái, khó thở khi vừa lên bàn sinh rồi trụy tim mạch ngay sau đó. Các bác sĩ đã nhanh chóng phẫu thuật cứu hai mẹ con chị. Đây được xem là trường hợp sống sót hy hữu trong ngành sản khoa.

Chị Vũ Thị Hằng, 37 tuổi ở Hàm Long, Hoàn Kiếm, Hà Nội, nhập viện lúc 20h ngày 18/10. Khi đang nằm trên bàn sinh, chị Hằng nói với các bác sĩ rằng mình thấy khó thở rồi sau đó người chị tím tái dần.

Bệnh nhân được đặt ống nội khí quản và đưa ngay vào phòng mổ. Em bé đã chào đời an toàn còn người mẹ phải cấp cứu tích cực vì chảy máu nặng. Các bác sĩ đã phải nhanh chóng cắt bỏ tử cung của chị Hằng và và bóp tim ngoài lồng ngực. Sau khi thoát cơn hiểm nghèo, chị được chuyển sang Bệnh viện Việt Đức vì các bác sĩ lo ngại chị còn phải đối mặt với nguy cơ về mạch máu.

Theo tiến sĩ Nguyễn Viết Tiến, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung Ương, tắc mạch ối là bệnh lý khiến những người làm trong ngành sản khoa sợ nhất bởi nó diễn biến nhanh, đột ngột khiến các bác sĩ trở tay không kịp. Hiện tượng xảy ra khi nước ối tràn vào máu trong quá trình chuyển dạ đẻ, thường gây tử vong cho sản phụ và thai nhi. Tai biến này rất hiếm gặp trong sản khoa nhưng 80% trường hợp mắc phải đều dẫn đến tử vong.

Trường hợp của chị Hằng khá hy hữu. Chị đã có dấu hiệu điển hình của tắc mạch máu dẫn tới trụy tuần hoàn và đã rơi vào trạng thái chết lâm sàng. Tuy nhiên, nhờ được chẩn đoán chính xác và cấp cứu kịp thời, chị đã thoát khỏi lưỡi hái tử thần.

Hiện, chị Hằng đang hồi phục sức khỏe. Bé trai 2,9 kg của chị cũng không còn phải thở máy nữa.

VNE

-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Con số trên được Viện nghiên cứu Guttmacher công bố ngày 13-10 sau khi tiến hành cuộc khảo sát trên quy mô toàn cầu.

Theo nghiên cứu trên, dù ngày càng có nhiều biện pháp tránh thai an toàn giúp giảm tỉ lệ phá thai, mỗi năm vẫn có 70.000 phụ nữ trên thế giới thiệt mạng do phá thai không an toàn, với hơn nửa trong số này (khoảng 38.000 người) ngụ tại vùng hạ Sahara châu Phi. Đây là nơi có tỉ lệ dùng biện pháp tránh thai thấp nhất và có số trường hợp có thai ngoài ý muốn cao nhất.

Bác sĩ kiểm tra sức khỏe một thai phụ ở Katmandu, Nepal hôm 13-10 - Ảnh: AP

“Ở hầu hết các nước phát triển, việc phá thai an toàn và hợp pháp. Nhưng ở đa số nước đang phát triển, phá thai vẫn bị hạn chế nghiêm ngặt; do đó tình trạng phá thai không an toàn khá phổ biến và tiếp tục ảnh hưởng đến sức khỏe chị em phụ nữ cũng như đe dọa sinh mạng họ” , bà Sharon Camp, giám đốc Viện Guttmacher - tổ chức chuyên nghiên cứu các vấn đề về tình dục và sinh đẻ có trụ sở tại New York (Mỹ) - nhận xét.

Nghiên cứu kêu gọi các nước đang phát triển nới lỏng hơn nữa luật phá thai, và cho rằng việc siết chặt quy định không ngăn được tình trạng phá thai mà chỉ khiến nó thêm nguy hiểm.

"Quá nhiều phụ nữ bị thương tật hoặc thiệt mạng mỗi năm do không được phá thai hợp pháp”, bà Camp nói, đồng thời viện dẫn trong số 41,6 triệu trường hợp phá thai trong năm 2003 có đến 19,7 triệu ca không an toàn, đa số xảy ra ở các nước đang phát triển vẫn áp dụng luật hạn chế phá thai.

Nghiên cứu cũng đề xuất các biện pháp giảm tỉ lệ tử vong do phá thai không an toàn: tạo điều kiện cho người dân tiếp cận các biện pháp tránh thai hiện đại; cải thiện các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình; cho phép mở các cơ sở phá thai hợp pháp và đảm bảo an toàn…

Tỉ lệ sinh đẻ tăng ở các nước giàu nhất thế giới

Theo phóng viên TTXVN tại New York, phân tích các số liệu dân số từ năm 2005 ở 140 nước, các nhà khoa học Trường ĐH Pennsylvania (Mỹ) và Mila (Ý) đã phát hiện tỉ lệ sinh đẻ ở các nước được xếp loại giàu nhất thế giới đã tăng trở lại, thậm chí ở một số nước tỉ lệ này đạt mức trung bình một phụ nữ sinh 2,1 trẻ em, trái với những dự báo lâu nay cho rằng ở các nước càng giàu với tiêu chuẩn sống cao thì tỉ lệ sinh đẻ càng thấp.

Theo các nhà nghiên cứu trên, sự sung túc và chương trình khuyến khích của chính phủ có thể đã giúp phụ nữ các nước giàu ngày càng kết hợp hài hòa hơn giữa việc sinh con và phát triển nghề nghiệp. Các nhà kinh tế ở các nước giàu lo ngại tỉ lệ sinh đẻ thấp sẽ gây nhiều vấn đề kinh tế - xã hội như dân số già, thiếu lao động trong các ngành kinh tế chủ chốt… nếu không tiếp nhận các nguồn lao động nhập cư.

tuoitre

-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Phụ nữ mang thai khả năng mễn dịch giảm nên dễ mắc bệnh hơn, nếu bị nhiễm virus cúm A/H1N1 thì càng nguy hiểm hơn, vì bệnh nặng hơn, khó điều trị, không chỉ ảnh hưởng đến thai phụ mà còn dẫn đến kết quả xấu cho thai nhi như sảy thai, đẻ non, nhẹ cân; khó thở do viêm phổi, thiếu ôxy làm cho thai nhi bị suy trong tử cung dẫn đến thai chết lưu, làm tăng tỷ lệ tử vong và bệnh tật.

Phụ nữ mang thai nếu có biểu hiện nhiễm cúm A/H1N1 cần đến ngay cơ sở y tế khám và điều trị. Ảnh: TL

Các chuyên gia của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết, ngay cả cúm theo mùa cũng là một mối đe dọa đối với phụ nữ mang thai, đặc biệt là ba tháng đầu, có thể dẫn đến những dị tật bẩm sinh.

Trong thời gian mang thai, sức đề kháng của người phụ nữ sẽ giảm đi. Do đó, họ thường dễ nhiễm bệnh hơn, và nếu nhiễm cúm A/H1N1 thì dễ biến chứng nặng hơn so với những đối tượng khác. Đối với thai nhi, nếu người mẹ nhiễm virus cúm A/H1N1 nói riêng và virus cúm nói chung, nhất là giai đoạn 12 tuần đầu tiên của thai kỳ, dễ dẫn đến tình trạng thai dị dạng, bất thường như sứt môi, hở hàm ếch, thậm chí còn gây đẻ non, sẩy thai, thai chết lưu nếu bị mắc ở 3 tháng cuối của thai kỳ.

Báo cáo của Trung tâm Kiểm soát và Phòng chống dịch bệnh Mỹ (CDC) cho biết chỉ trong vòng một tháng, từ ngày 15/4 - 15/5 tại Mỹ xác định 34 trường hợp phụ nữ mang thai nhiễm cúm A/H1N1. Từ ngày 15/4 - 16/6, có 6 trường hợp tử vong. Nguy cơ phụ nữ nhiễm cúm A/H1N1 phải nhập viện điều trị cao gấp 4 - 5 lần so với những người bệnh khác. Đặc biệt, các thai phụ này dễ bị biến chứng phổi, suy hô hấp nặng phải thở bằng máy, và dẫn đến tử vong. CDC khuyến cáo phụ nữ mang thai nếu phát hiện các triệu chứng nhiễm cúm A/H1N1 phải đến bệnh viện ngay để được điều trị và họ cần được tiêm phòng vắc-xin chống cúm càng sớm càng tốt.

Theo khuyến cáo của Bộ Y tế, để phòng tránh cúm A/H1N1, những người mắc bệnh mạn tính (bệnh tim mạch, hen, lao phổi, tiểu đường, béo phì, suy dinh dưỡng, bệnh nhân AIDS...), phụ nữ mang thai, người già, trẻ em cần được đặc biệt quan tâm tới tình trạng sức khỏe của mình, tránh tiếp xúc với người nghi ngờ mắc bệnh, khi có biểu hiện bệnh cần đến ngay cơ sở y tế để được khám, chữa kịp thời, hạn chế biến chứng nặng và tử vong.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng khuyến cáo, khi vắc-xin đại dịch được phổ biến, y tế có thẩm quyền nên cân nhắc việc cung cấp cho phụ nữ mang thai là nhóm ưu tiên nhất

SKDS

-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Ảnh: DailyMail.

Những cô gái từng nạo, phá thai 2 lần trở lên thì làm tăng 72% nguy cơ sinh con nhẹ cân và 93% nguy cơ đẻ non cho lần sinh nở sau đó, một nghiên cứu y học vừa công bố tại Canada cho biết.

Nghiên cứu được thực hiện để điều tra xem tại sao các em bé bị sinh non và nhẹ cân.

Tờ DailyMail cho biết nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu 37 công trình nghiên cứu trên khắp thế giới, được thực hiện từ giữa năm 1965 và 2001 để xác định xem liệu những lần phá thai trước có phải là yếu tố gây sinh non và nhẹ cân cho các lần sinh nở sau hay không. Kết quả thu được đúng như họ dự đoán.

Nhóm tác giả của báo cáo tổng hợp nhận định, có thể có vài lý do gây nên tình trạng đẻ non này - mà khả năng lớn nhất là sự hư hại cổ tử cung, do các phương tiện phá thai gây ra.

Tác giả của báo cáo, tiến sĩ Prakesh Shah, từ Bệnh viện Mount Sinai ở Toronto, cho rằng "khi một phụ nữ có dự định chấm dứt thai kỳ, bác sĩ nên cảnh báo cho cô ấy về nguy cơ này. Ít nhất cô ấy có thể sẽ có lựa chọn khôn ngoan hơn".

VNE

-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Có bầu khi còn đi học, Tâm tìm đến một phòng khám sản tư để hút thai. Trong tâm trạng lo sợ, cô hỏi bác sĩ làm thủ thuật về ảnh hưởng của việc này thì được trả lời: "Không sao đâu, chỉ hơi đau tí thôi, xong là về, đi học lại bình thường".

Trả lời phỏng vấn sâu trong một nghiên cứu về nạo phá thai, cô gái 20 tuổi người An Giang này chia sẻ: “Em muốn được các cô tư vấn cách chăm sóc sức khoẻ sau khi phá thai vì em nghe nói sau khi phá có người không có con được. Em cũng sợ mình như thế. Nhưng các cô làm xong cho em lại không nói gì hết. Em không biết phải vệ sinh như thế nào, 'quan hệ' ra sao sau đó".

Trường hợp của Tâm không hề hiếm. Trên Internets, những câu hỏi kiểu như: "liệu hút thai bao nhiêu lần thì mới bị vô sinh?" hay "sau bao lâu có thể quan hệ lại được", "em thấy hoàn toàn khỏe mạnh, có cần nghỉ ngơi hay kiêng khem gì không"..., rất phổ biến với cả những bạn trẻ từng hút thai tới vài ba lần. Một trong những lý do dẫn đến việc này là họ ít được tư vấn trong quá trình thực hiện thủ thuật. Và hệ quả là nhiều bạn đã không biết cách giữ gìn sức khỏe cho mình sau đó dẫn đến các biến chứng đáng tiếc hoặc lại tiếp tục có thai và phá.

Ảnh: Hoàng Hà.
Nhiều bạn trẻ sau nạo phá thai vẫn không biết cách phòng ngừa nên dẫn đến những hậu quả đáng tiếc. Hình minh họa: Hoàng Hà.

Mỹ Trang (học sinh một trường cấp 3 ở Hà Nội) sau khi trải qua những đau đớn, sợ hãi trong lần hút thai đầu tiên đã thề sẽ không bao giờ để chuyện này xảy ra nữa. Thế nhưng, hai tháng sau đó, cô bé lại có mặt ở một phòng khám sản khác với gương mặt thất thần: "Bác sĩ ơi, cháu không biết mình bị làm sao nữa, quá ngày rồi mà vẫn chưa 'bị'. Hay tại cháu phá nên gặp trục trặc gì?". Sau đó, Trang càng sốc hơn khi thấy que thử thai bác sĩ đưa cho hiện lên hai vạch hồng.

"Cháu cứ nghĩ phải mất một thời gian để 'bộ máy' trở lại bình thường được nên không thể có thai lại ngay và cứ... thoải mái sau ba ngày hút. Người làm cho cháu lần trước chẳng thấy nói gì đến việc này", Trang vừa khóc vừa nói với bác sĩ và xin phá thai lần hai vì sợ bố mẹ biết chuyện.

Còn Hải Anh sinh viên năm thứ nhất một trường đại học bán công ở Hà Nội lên mạng cầu cứu: "Em vừa đi hút thai xong thì hôm sau trường tổ chức dã ngoại. Em đã tham gia đá bóng vì có tên trong danh sách từ trước, sau đấy thấy người mệt, lên cơn sốt, lại ra rất nhiều máu, không biết có sao không. Trước đó, lúc làm cho em, bác sĩ chỉ bảo: cứ đi học bình thường, cô làm đảm bảo lắm, không ảnh hưởng gì đâu". Cô gái trẻ này sau đó phải nhập viện vì bị tổn thương ở tử cung.

Theo một báo cáo mới đây tổng hợp các nghiên cứu về vấn đề nạo hút thai tại Việt Nam của Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong phát triển (Hoàng Quốc Việt, Hà Nội), hoạt động tư vấn trước, trong và sau khi phá thai cho phụ nữ, nhất là các bạn gái trẻ chưa lập gia đình chưa được triển khai tốt. Và đây chính là một trong những nguyên nhân khiến Việt Nam có tỷ lệ nạo hút thai, nhất là nạo hút thai từ hai lần trở lên rất cao.

Theo khảo sát mô hình thí điểm dịch vụ sức khoẻ sinh sản thân thiện với thanh thiếu niên tại Hà Nội, TP HCM và An Giang thì trong 93 trường hợp nạo thai, chỉ có 2 phần 3 số bạn trẻ được bác sĩ yêu cầu nằm nghỉ sau thủ thuật. Cứ 10 cô gái thì có 8 bạn được tư vấn về nguy cơ của nạo phá thai, cách xử trí khi có dấu hiệu báo động nhưng họ hầu như không được hướng dẫn gì về cách giữ gìn vệ sinh sau nạo.

Theo một khảo sát của UNFPA thì khoảng 40% tổng số trường hợp có thai đã phá thai và mỗi phụ nữ phá thai trung bình khoảng 2,5 lần trong đời. Còn theo kết quả điều tra Y tế quốc gia 2007 thì trong số phụ nữ từng nạo hút thai, có tới hơn 1/4 số họ đã làm việc này từ hai lần trở lên.

Theo tiến sĩ Hoàng Bá Thịnh - tác giả báo cáo nghiên cứu trên, vì đây là mô hình thí điểm thuộc dự án sức khoẻ sinh sản nên mới có kết quả đó, nếu không, mức độ tư vấn chắc chắn không khả quan như vậy.

Ông cho rằng, có nhiều lý do dẫn đến việc tư vấn không đầy đủ và kém chất lượng như trên: áp lực thời gian, nhân viên y tế thiếu kỹ năng tư vấn, thiếu sự thân thiện đối với khách hàng trẻ chưa lập gia đình... Ngoài ra, do tâm lý ngại đến bệnh viện, muốn giữ kín thông tin, các bạn gái trẻ thường tìm đến các phòng khám tư để thực hiện thủ thuật và nhiều nhân viên y tế ở các cơ sở này chưa quan tâm đến công tác tư vấn.

Một khảo sát nhỏ của Vnexpress.net vừa qua với gần 500 độc giả cũng cho thấy, gần một phần ba số phụ nữ đi nạo phá thai không được nhân viên y tế tư vấn gì, một số tương tự khác chỉ được bác sĩ dặn dò sơ sơ về việc nghỉ ngơi, trong khi không ít người phải cố gạn hỏi thì mới được bác sĩ tư vấn.

Theo bác sĩ sản phụ khoa Lê Thị Kim Dung, trung tâm y tế lao động (Thái Hà, Hà Nội), việc tư vấn cho khách hàng nạo hút thai vô cùng quan trọng. Thông thường, khi tiếp nhận yêu cầu này, bao giờ bà cũng phân tích cho các bạn trẻ thấy ảnh hưởng của việc làm này đến tâm, sinh lý cũng như khả năng sinh sản sau này. Bác sĩ bao giờ cũng chia sẻ để các bạn hiểu đây là giải pháp bất đắc dĩ nên cần suy nghĩ thật kỹ trước khi quyết định.

Nếu sau đó họ vẫn giữ nguyên ý định thì bác sĩ phải tư vấn cho họ cách tránh thai sau phá, chế độ ăn uống, nghỉ ngơi và vệ sinh để đảm bảo sức khỏe cũng như những dấu hiệu nào cần lưu ý và phải đến viện khám khi đã trở về nhà.

Bà Dung cho biết, những điều này bất cứ cơ sở nào cũng cần phải làm để giúp khách hàng tự biết bảo vệ sức khỏe cho mình và tránh để xảy ra "tai nạn" này lần nữa.

Tuy nhiên, bác sĩ cũng cho hay, tỉ lệ thanh thiếu niên nữ phá thai nhiều, nhất là phá thai liên tiếp vài lần ngoài việc do công tác tư vấn chưa đầy đủ còn vì ý thức và lối sống của một bộ phận giới trẻ. Bà kể rằng, nhiều đôi đến nạo hút thai dù đã được tư vấn rất kỹ, và bác sĩ cho cả thuốc tránh thai trong đơn thuốc uống cùng kháng sinh nhưng họ vẫn không sử dụng mà lại để có thai ngoài ý muốn lần tiếp theo.

Theo Bộ Y tế, phá thai an toàn là phải có tư vấn về phá thai. Các biện pháp ngoại khoa (hút, nong và nạo thai sớm) có thể thực hiện đến hết 12 tuần kể từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng. Trong vòng 7 tuần đầu, có thể phá thai bằng thuốc. Phương pháp nong và gắp được áp dụng cho thai 13-18 tuần. Đối với từng phương pháp, Bộ cũng có quy định chặt chẽ về tuyến áp dụng, người được phép thực hiện, chỉ định, chống chỉ định, quy trình kỹ thuật, xử trí tai biến, theo dõi và chăm sóc ... .

Với bất kỳ phương pháp nào, tư vấn cũng là khâu rất quan trọng nhằm giúp thai phụ tự quyết định việc có phá hay không. Nếu quyết định bỏ thai, họ sẽ cùng cán bộ y tế lựa chọn phương pháp phù hợp trên cơ sở các thông tin về kỹ thuật, nguy cơ có thể gặp, cách tự chăm sóc và biện pháp tránh thai phù hợp sau đó.

-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Các chuyên gia hàng đầu cảnh báo những phụ nữ muốn có con rằng đồng hồ sinh học của họ chạy rất nhanh. Ở tuổi 30, chị em nên làm fertility MoT - một loại xét nghiệm tổng thể về khả năng sinh nở - để nâng cao cơ hội làm mẹ.

Khả năng sinh nở giảm theo tuổi. Ảnh trên là xác suất có thai sau một năm quan hệ của phụ nữ ở các nhóm tuổi. Ảnh: DailyMail.

Giáo sư Bill Ledger cho biết rất nhiều phụ nữ không ý thức được khả năng sinh nở của họ giảm nhanh theo thời gian. Nhưng xét nghiệm trên sẽ cho thấy đồng hồ sinh học của chạy nhanh thế nào, và giúp họ lên kế hoạch cho gia đình trước khi quá muộn.

"Nhiều phụ nữ không nhận ra tầm quan trọng của tuổi tác khi nói đến việc sinh nở. Họ nghĩ 'điều đó không thể xảy ra với mình được. Mình 37 tuổi, đi thể dục nhịp điệu 2 lần mỗi tuần, không uống rượu, không hút thuốc. Mình thấy mọi thứ ở mình vẫn hoàn toàn trẻ trung'. Chà, điều đó đúng, ngoại trừ buồng trứng của bạn", giáo sư Bill Ledger nói.

Từ tuổi 35 trở đi, khả năng sinh nở giảm đi nhanh chóng, và giảm nhanh hơn sau đó. Khi ấy, dù có mất tiền làm thụ tinh ống nghiệm, hiệu quả cũng không được là bao. Thậm chí đến giữa tuổi 40, khả năng thành công với thụ tinh ống nghiệm chỉ còn khoảng 5%.

Tony Rutherford, chủ tịch của Hiệp hội sinh sản Anh cho biết "Nếu một phụ nữ lùi thời gian có con quá muộn - ý tôi là 36 tuổi - cô ấy đang đánh bạc với cuộc đời", ông nói.

VNE

-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Hiện nay, thai phụ dễ dàng biết giới tính của con khi đi siêu âm. Ảnh: Images.com.

Có băng quay hình ảnh, lời nói của bác sĩ thông báo giới tính thai nhi cho bà mẹ, Sở Y tế Hưng Yên đã ra quyết định dừng hoạt động siêu âm của hai phòng khám này.

Hai phòng khám trên đều là cơ sở y tế tư nhân.

Theo ông Vũ Văn Nhạ, Phòng truyền thông giáo dục, Chi Cục dân số Hưng Yên, để có được bằng chứng này, phóng viên của Đài phát thanh - truyền hình tỉnh đã phải phục kích hàng tháng và dùng máy quay đặc dụng ghi lại đầy đủ hình ảnh và lời nói của các bác sĩ ở hai phòng khám trên khi họ siêu âm và thông báo cho thai phụ biết giới tính của con.

Sau khi Đài phát sóng các hình ảnh này, Sở Y tế Hưng Yên đã đến làm việc với chủ hai cơ sở trên y tế trên. Những người này thừa nhận hành vi vi phạm pháp luật và chấp nhận dừng hoạt động siêu âm theo quyết định của Sở.

Ông Nhạ cũng cho biết, là tỉnh đứng thứ hai cả nước về mật độ dân số với 1.250 người/km, Hưng Yên có tỷ lệ con thứ ba khá cao, khoảng gần 10% vào năm 2008. Đây cũng là tỉnh có tỷ số giới tính khi sinh luôn ở mức cao, khoảng 130 nam trên 100 nữ.

Từ năm 2008 đến nay, Sở đã chỉ đạo quyết liệt các đơn vị trong ngành Y tế cùng vào cuộc, đồng thời đẩy mạnh việc kiểm tra giám sát tình hình chấp hành pháp lệnh dân số đối với các cơ sở y tế tư nhân trong tỉnh.

Dù Pháp lệnh dân số từ năm 2003 đã quy định cấm tất cả các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi nhằm ngăn chặn tình trạng thừa nam, thiếu nữ nhưng nhiều cơ sở y tế vẫn lén thông báo giới tính thai cho bà mẹ. Các cơ quan chức năng biết rõ điều này nhưng gần như bó tay vì không có bằng chứng khi các bác sĩ thường nói riêng với bệnh nhân hoặc dùng ký hiệu.

VNE
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Ảnh: allaboutyou.com
Nhiều thai phụ rất lo lắng khi lỡ chụp X-quang mà không biết mình đang mang thai. Tia X tác hại trên thai nhi là chuyện đã rõ, tuy nhiên mức độ thế nào là tùy tuổi thai và liều lượng của tia.


Tia X có thể kèm theo nguy cơ ung thư, bệnh bạch cầu cấp và một số dị tật bẩm sinh cho thai nhi. Theo Ủy ban Kiểm soát về vấn đề hạt nhân của Mỹ, thai nhi có nguy cơ mắc bệnh ung thư về sau nếu nhiễm liều bức xạ từ 2- 6 rad. Với liều bức xạ > 5 rad thai nhi có nguy cơ bị dị tật bẩm sinh.
Tùy vào mức độ phơi nhiễm, tia X có thể gây sẩy thai, chậm phát triển thai nhi hoặc một vài loại ung thư ở giai đoạn sau này. Ở cùng liều bức xạ, mức độ nguy hiểm nặng, nhẹ tùy giai đoạn tuổi thai (xem bảng 1).
Hạn chế sự phơi nhiễm tia X
Tia X, còn gọi là tia Röntgen, do nhà vật lý người Đức Wilhelm Conrad Röntgen tìm ra vào năm 1895. Tia X là một dạng bức xạ năng lượng cao không nhìn thấy được bằng mắt thường.
Tia X có thể xuyên thấu qua nhiều vật thể, đặc biệt là các vật thể sống. Tia X được dùng khá nhiều trong chẩn đoán (chụp X-quang) các bệnh lý về xương, phổi và cơ quan khác.
Liều bức xạ của tia X được dùng trong chẩn đoán rất thấp, thấp hơn nhiều lần so với liều gây hại cho thai. Tia X dùng trong chẩn đoán hầu như không làm gia tăng tỉ lệ dị tật bẩm sinh thai nhi.
Tuy nhiên, trong thai kỳ tốt nhất là hạn chế tối đa việc tiếp xúc với tia X. Các bác sĩ sẽ cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ của tia X khi chỉ định dùng cho thai phụ. Trong trường hợp chẳng đặng đừng nếu phải chụp X-quang (ở những vùng khác), nên che chắn bụng thai phụ bằng một áo chì để hạn chế phơi nhiễm tia X cho thai nhi.
Thai phụ nên thông báo với bác sĩ về thai kỳ của mình nếu có chỉ định chụp X-quang. Ngày nay có thể dùng siêu âm chẩn đoán thay X-quang. Cộng hưởng từ (MRI) dùng an toàn cho thai nhi sau 12 tuần.
Bảng 1:
Tuần tuổi thai
Ảnh hưởng
0-1 (tiền làm tổ)
Chết phôi
2-7 (giai đoạn phát triển cơ quan)
Dị dạng, chậm phát triển, ung thư
8-40 (Giai đoạn thai)
Dị dạng, chậm phát triển, ung thư, trì trệ.
Mức độ ảnh hưởng của các loại X-quang
Hai loại tia X có năng lượng bức xạ cao là CT (Computed Tomography) bụng chậu và chụp huỳnh quang. Nếu không thể trì hoãn đến sau khi kết thúc thai kỳ thì bác sĩ nên chọn loại kỹ thuật có mức bức xạ thấp nhất, chùm tia X thu hẹp để vùng phơi nhiễm nhỏ, và nếu chụp huỳnh quang thì thời gian càng ngắn càng tốt.
Bảng 2 tính liều bức xạ trung bình trên thai nhi trong chẩn đoán bằng tia X thông thường. Đơn vị tính là milligray (mGy) [1 gray = 100 rad = 1.000 milligray]
Tại Canada, ước tính liều bức xạ mỗi thai nhi nhiễm khoảng 0,5mGy trong suốt thai kỳ từ đất, chất liệu xây dựng, không khí, thức ăn và ngay cả trong không gian. Mức độ có thể cao hơn tùy vào nơi thai phụ sống và có thể tăng nếu đi máy bay, vì mức độ bức xạ khi bay sẽ cao hơn ở dưới mặt đất.
Ngay cả khi không tiếp xúc với tia X vẫn có một tỉ lệ nhỏ thai nhi (4- 6%) bị bất thường, vì vậy thai phụ cần phải khám thai định kỳ để được tầm soát và chẩn đoán sớm những bất thường nếu có.
Bảng 2:
Liều bức xạ trung bình trên thai nhi (*)
Nguồn bức xạ
Liều
trung bình (mGy)
Nguồn bức xạ
Liều
trung bình
(mGy)
Chụp răng
<0,01*
Chụp đường tiêu hóa trên (dạ dày, thực quản) có uống chất cản quang Barium, (chụp huỳnh quang)
1,1
Ngực
<0,01
Chụp đường tiêu hóa dưới (đại tràng) có bơm cản quang (chụp huỳnh quang)
6,8
Nhũ ảnh
<0,05*
Chụp cắt lớp (CT) vùng đầu
<0,005
Xương chậu
1,1
Chụp cắt lớp vùng ngực
0,06
Bụng
1,4
Chụp cắt lớp vùng thắt lưng
2,4
Xương sống thắt lưng
1,7
Chụp cắt lớp vùng bụng
8,0
Ước tính liều bức xạ thai nhi nhiễm từ tự nhiên (môi trường) trong suốt thai kỳ
0,5*
Chụp cắt lớp vùng chậu
25
(*): Ước tính bởi Bộ Y tế Canada
TS.BS LÊ THỊ THU HÀ (Bệnh viện Từ Dũ)-Tuoitre
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Bà Brown từng chi tiền tại Mỹ và Italy trong nỗ lực có thai, và giờ đây bà đang chuẩn bị bay ra nước ngoài một lần nữa, tới bệnh viện đồng ý thực hiện liệu pháp nhân tạo cho người ở lứa tuổi như bà.
Nếu thành công trong lần thụ tinh ống nghiệm thứ 7 này, bà sẽ trở thành người mẹ già nhất thế giới.
"Người mẹ nào cũng có thể tử vong ở lứa tuổi bất kỳ. Tôi hy vọng sẽ sống tới 100, nhưng tôi cũng sẽ nhờ một trong những người bạn trẻ tuổi của mình làm người giám hộ con trong trường hợp đó", bà Brown nói.
"Mọi người hỏi tôi một đứa trẻ sẽ cảm thấy thế nào nếu có mẹ ở lứa tuổi này. Tôi hy vọng chúng sẽ thấy đặc biệt. Tôi sẽ nói với chúng rằng tôi đã cố gắng trong một thời gian dài, và rằng thật tuyệt vời làm sao khi có chúng".
"Tôi biết đó sẽ là công việc khó khăn. Nó sẽ làm thay dổi cuộc đời tôi hoàn toàn và tôi sẽ chuẩn bị cho điều đó".
Brown hiện sống ở London. Bà cho biết mình luôn mong ước có một đứa con, nhưng đã dành hết thời gian tuổi trẻ cho việc lấy bằng trong lĩnh vực thú y và y khoa.
"Tôi luôn tâm niệm rằng khi thời gian phù hợp, tôi sẽ có một đứa con. Nhưng các nghiên cứu của tôi đã khiến cho việc có con bị lùi lại mãi. Thời điểm phù hợp cuối cùng đã đến khi tôi qua tuổi 50, và kể từ đó tôi đã nỗ lực và thất bại với kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm", bà nói. 
Suckhoegiadinh.org theo VNE
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Mẹ nhiễm HIV trong thời gian mang thai có thể lây sang con nếu không được điều trị dự phòng. Ảnh: Corbis.com.

Nghe bác sĩ báo cô con gái nhỏ bị nhiễm HIV, chị Thanh (26 tuổi, Hà Nội) đứng chết lặng. Cũng từ đó, tai họa liên tiếp đổ xuống. Chị, chồng và cả cậu con trai 5 tuổi với chồng cũ cũng không thoát khỏi căn bệnh chết người này.

5 năm trước, khi đang mang thai đứa con đầu lòng thì chồng chị Thanh qua đời. Biết anh có sử dụng ma túy, nhưng chị không nghĩ anh chết vì HIV/AIDS mà chỉ nghĩ đơn thuần là lao phổi. Gia đình nhà chồng cũng không nói gì và có ý để chị đi bước nữa.

Thế rồi chị gặp và kết hôn với người yêu cũ từ hồi cấp 3 và sinh được một bé gái. Cả hai vợ chồng chăm chỉ lo làm ăn, không sống buông thả, bừa bãi gì. Một lần bé ốm, hai vợ chồng đưa con lên Bệnh viện Nhi Trung ương làm xét nghiệm và phát hiện cháu có HIV.

Chị Nguyễn Thị Phương, tư vấn viên của Trung tâm tư vấn và xét nghiệm tình nguyện Ngôi nhà tuổi trẻ (Thanh Xuân) cho biết, có thể khẳng định chị Thanh đã bị lây nhiễm HIV từ người chồng trước. Virus HIV đã lây sang cả con trai trong bụng chị lúc đó. Và sau này vô tình lây sang cả người chồng hiện tại cùng đứa con nhỏ nữa.

Nếu mẹ nhiễm HIV mà không uống thuốc ARV dự phòng trong thai kỳ và trẻ dùng sữa mẹ trong 6 tháng thì khả năng trẻ bị lây nhiễm là 30%-40%. Trường hợp mẹ không uống ARV và trẻ không bú sữa mẹ thì tỷ lệ lây cho con là khoảng 20%-30%.

Nhưng nếu mẹ và con uống ARV dự phòng và trẻ không dùng sữa mẹ hoàn toàn thì tỷ lệ lây nhiễm cho con giảm đáng kể, chỉ còn 2%-6%.

(Theo Cục phòng, chống HIV/AIDS)

Tất cả những chuyện đáng buồn trên có lẽ đã không xảy ra nếu người dân có kiến thức nhiều hơn về HIV.

"Giá như người chồng cũ của chị Thanh không dùng chung bơm kim tiêm? Giá như gia đình nhà chồng cũ cho chị biết tình hình sức khoẻ của anh? Như thế chị sẽ được điều trị sớm và cậu con trai, người chồng mới và cô con gái nhỏ cũng sẽ không bị lây nhiễm HIV", chị Phương cho biết.

Những trường hợp mẹ nhiễm HIV sau đó lây sang con không còn là chuyện hiếm gặp, như chuyện của chị Hải (Cầu Giấy, Hà Nội).

Dù biết chồng là một người nghiện ma túy nhưng chị vẫn lấy vì trước khi lấy nhau anh đã đi xét nghiệm HIV và thấy không có vấn đề gì. Nhưng một năm sau anh qua đời vì chính căn bệnh thế kỷ này. Điều không may là cả chị và đứa con nhỏ mới sinh đều bị nhiễm. Kỳ thực người chồng đã mang trong người virus HIV, nhưng có thể thời điểm xét nghiệm là giai đoạn cửa sổ nên không phát hiện được bệnh.

"Mình thì chả sao, chỉ thương con còn nhỏ mà đã mang bệnh tật, suốt ngày phải uống thuốc. Nhiều lúc nghe con hỏi: 'Mẹ ơi, sao suốt ngày con phải uống thuốc thế. Con chán lắm rồi' mà tôi thấy như dao cứa vào lòng", chị Hải tâm sự.

HIV/AIDS tại Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng trong nhóm người có nguy cơ cao (tiêm chích ma túy, mại dâm) nhưng đồng thời cũng tăng trong nhóm không có nguy cơ cao. "Thực tế là số trẻ em dưới 15 tuổi bị nhiễm HIV đang có chiều hướng gia tăng, ước tính đến năm 2012 hơn 3.700 trường hợp", tiến sĩ Nguyễn Thanh Long, Cục trưởng Cục phòng, chống HIV/AIDS nhận định.

Theo ông nguyên nhân là ngày càng có nhiều phụ nữ mang thai bị nhiễm HIV, phần lớn họ không nằm trong nhóm có hành vi nguy cơ cao như mại dâm, nghiện ma túy, thường họ bị nhiễm HIV từ người chồng. Cũng vì cho rằng mình không thể có khả năng nhiễm bệnh, nên rất ít phụ nữ làm xét nghiệm trong thời kỳ mang bầu. Chỉ đến lúc gần sinh xét nghiệm thì đã quá muộn.

"Điều này đặt ra yêu cầu mở rộng chương trình dự phòng lây truyền từ mẹ sang con. Tuy nhiên, trên thực tế chỉ có 40% phụ nữ có thai nhiễm HIV nhận được điều trị bằng thuốc kháng virus hoặc các chăm sóc, điều trị khác", ông Long cho biết.

VNE

-->đọc tiếp...

| 2 tin nhắn ]

Cô bé chừng 17 tuổi, tóc thắt bím, mặc quần lửng, áo thun, không giấu nỗi vẻ mặt sợ hãi. Lóng ngóng nhìn trước ngoái sau để tìm bảng hướng dẫn trước cổng Bệnh viện Từ Dũ, TP HCM, em cúi đầu bước nhanh theo hướng chỉ tay của bác bảo vệ.

Rón rén đến bàn hướng dẫn, cô điều dưỡng tiếp nhận bệnh của Từ Dũ không kịp ngẩng đầu lên, nói nhanh: “Nuôi hay bỏ? Nuôi đi thẳng rẽ trái. Bỏ đi ngược ra ngoài cổng, qua phía bên kia đường”. Cô bé bắt đầu rơm rớm nước mắt, vội vã đi ra ngoài cổng băng qua đường trong tiếng chào mời của “cò”. Tiếng loa phát thanh cảnh báo không nên nghe lời mời mọc của các “cò” vẫn liên tục vang lên.

Ảnh minh họa: Hoàng Hà.

Đầu giờ chiều một ngày cuối tháng 5, tại khu vực “bỏ”, khoa Kế hoạch hóa gia đình bệnh viện Từ Dũ, bệnh nhân đông hơn hẳn khu vực “nuôi”. Trên bậc thang lên xuống, lác đác vài cặp nam nữ đứng thầm thì trong nước mắt. Các cô gái khác, phần lớn nằm trong độ tuổi từ 16 đến 25 ngồi trước phòng khám, tay cầm số chờ đến lượt mình. Mới hơn 2 giờ chiều, bảng hiển thị số thứ tự đã lên tới số 932 và còn hơn 30 người vẫn đang ngồi đợi ngoài hành lang rộng chừng 3 mét, dài hơn 50 mét.

Trong bầu không khí tĩnh lặng, tiếng bác sỹ vang lên từ chiếc micro trong các phòng khám rõ mồn một xen lẫn những tiếng thở dài và những đôi mắt ướt. Cô bé thắt bím ngồi một mình bên cạnh một cặp nam nữ, khuôn mặt hiện lên nhiều nỗi lo lắng và sợ hãi, trên tay em đang cầm số thứ tự run lên bần bật từng hồi. Mắt em nhòe nước khi có người bắt chuyện với tư cách "cùng cảnh ngộ". Em nói: ba mẹ em rất bận, họ không bao giờ có thời gian ngồi lắng nghe em… Em có bạn trai năm em học lớp 8, cũng có hoàn cảnh giống nhau nên hai đứa chia sẻ được rất nhiều. Cả em và bạn em tò mò “làm chuyện ấy” trong năm học lớp 10. Em không muốn có con vì vẫn đang đi học, ba mẹ của em hoàn toàn không biết, bạn bè thân, em cũng không dám kể.

Nghẹn giọng giây lát, cô bé cho hay, em không thấy kinh nguyệt, bụng dưới cứ đau âm ỉ. Tâm sự với bạn trai rồi hai đứa đi mua que thử thai về thử, em biết mình đã bị “dính”. Hoang mang, mất ăn mất ngủ vì sợ, em liên tục lên mạng tìm kiếm thông tin để biết thêm về chuyện có thai ngoài ý muốn. Bạn trai em khuyên nên đến bệnh viện sớm để giải quyết, càng chần chừ bụng em càng to sẽ khó khăn hơn cho cả hai đứa. Sau khi khám bác sĩ, em biết cái thai của mình đã được 7 tuần. Cô này hỏi em muốn phá bằng thuốc hay nạo hút bằng thìa...

“Đọc những thông tin trong tờ rơi, em thật sự rất lo lắng. Nhẹ không nói gì, nặng sẽ gặp nhiều tai biến như: xuất huyết liên tục không cầm được, thai không ra hết phải chuyển sang biện pháp nạo hút… và nguy cơ vô sinh về sau này là rất lớn. Em ân hận rất nhiều. Giờ đây chỉ có mỗi mình em phải gánh chịu hậu quả. Em cảm thấy bản thân mình nhơ nhớp và ghê tởm”, cô bé nói trong nước mắt.

Cùng lúc đó, một nhóm gồm 4 em ở độ tuổi 16, 3 nam 1 nữ đang hồn nhiên ngồi đùa giỡn. Nghe đọc tên, cô bé mặc váy ngắn đến mức không thể ngắn hơn, áo hai dây ôm sát người, mái tóc dài màu đỏ với cặp kính râm che nửa khuôn mặt, cầm số đứng lên. Em không quên đưa tay vuốt ve bạn trai ngồi bên cạnh trước khi bước vào phòng khám. Sau 5 phút, em bước ra, khuôn mặt tươi cười mừng rỡ với các bạn: “Lại 4 tuần uống thuốc. Lần trước bốn trăm không biết giờ tăng lên bao nhiêu. Anh đưa em một triệu đi, cuối tháng, ông bà bô chi tiền tiêu vặt, em bù”, nói xong, cô bé nghênh nganh đi trong ánh nhìn bỡ ngỡ của mọi người.

Còn phía bên kia hành lang của lầu 1 bệnh viện, một căn phòng lớn gồm khoảng 20 nữ đang nằm thiếp đi sau khi phá thai bằng phương pháp nạo hút. Bên ngoài, hơn 10 cô gái khác đã thay sẵn trang phục bệnh nhân ngồi chờ. Thấp thoáng hiện trong số đó, có những gương mặt non nớt, trắng bệch.

Những ánh mắt nhìn sợ hãi, những khuôn mặt tối sầm và xám xịt hơn khi tiếng dụng cụ leng keng, tiếng la, tiếng rên rỉ vang trong phòng mổ.

Ngồi lẩn khuất trong nhóm bệnh nhân, một nữ sinh lớp 11 rụt rè cho biết, em đi tái khám sau khi phá thai bằng phương pháp nạo hút vì thai trên 7 tuần, em không thể dùng thuốc.

Khi đã gần gũi hơn, em nghẹn lời kể về thời điểm đầu, khi hoàn toàn không biết mình có thai. Nhưng mẹ em thì biết. Mẹ đã gặng hỏi, điện thoại cả cho bạn trai em để xác minh nên em sợ và kể thật với mẹ. "Ba mẹ đã khóc, khóc rất nhiều chứ không la mắng, em cảm thấy tim em nhói đau gấp trăm lần lúc em nằm trên băng ca trong phòng mổ...", cô bé rưng rưng nước mắt.

Rồi ba mẹ xin phép thầy cô cho em được nghỉ học một tuần để đưa em vào bệnh viện phá thai. Em rất bất ngờ vì ba mẹ đã không sang nhà bạn trai em làm ầm ĩ hay bắt họ phải chịu trách nhiệm. Không ai biết gì ngoài ba mẹ và bạn trai em, mọi thứ diễn ra trong âm thầm. Em biết họ đã đau lòng rất nhiều vì đứa con hư hỏng và bản thân thì "chỉ muốn chết đi cho rồi". Cô bé cũng chia sẻ về khoảnh khắc nằm trong phòng phá thai, tai em ù lại, mắt em mờ đi, tim em đập mỗi lúc một mạnh hơn. Em đã được tiêm thuốc gây tê nhưng vẫn cảm nhận được sự đau đớn đó...

“Sau khi bỏ thai, em và bạn trai cũng chia tay. Bạn ấy tâm sự với cô bạn thân của em rằng bạn ấy cảm thấy ghê ghê và ghét em. Em buồn lắm và đã gặp bạn để năn nỉ đừng bỏ em một mình nhưng bạn ấy chỉ đồng ý hai đứa tiếp tục quen nhau cho đến khi em khỏe mạnh lại như trước”, cô bé lại khóc.

Nắng cuối ngày bắt đầu tàn dần, nhiều bệnh nhân tuổi teen của Từ Dũ cúi đầu lẳng lặng ra về.

-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Nhiều trường hợp do nạo hút thai không đúng kỹ thuật có thể làm cho cổ tử cung bị rách, thủng, viêm dính tử cung, vòi trứng và có thể dẫn tới vô sinh...
Khi việc nạo phá thai được nhân viên y tế có chuyên môn thực hiện trong điều kiện vô khuẩn thì người phụ nữ rất ít gặp tai biến. Nhưng khi việc nạo phá thai được thực hiện tại nhà, hoặc do những người không có chuyên môn làm thì rất nguy hiểm, vì dễ gây chảy máu nặng, nhiễm khuẩn, thậm chí tử vong.

Ảnh minh họa.

Có rất nhiều biến chứng có thể xảy ra sau quá trình nạo hút thai, trong đó dễ gặp nhất là viêm nhiễm đường sinh dục, băng huyết, đau bụng dữ dội, nhiễm khuẩn tử cung... Bình thường, buồng tử cung vô khuẩn tuyệt đối. Khi thực hiện thủ thuật nạo hút thai, mặc dù các dụng cụ đã được tiệt khuẩn và các thao tác có được thực hiện cẩn thận bao nhiêu thì quá trình chảy máu vẫn tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập.
Mặt khác, nếu nạo hút thai không đúng kỹ thuật có thể làm cho cổ tử cung bị rách, thủng, viêm dính tử cung, vòi trứng... và có thể dẫn tới vô sinh. Sau khi nạo phá thai, nếu thấy có những dấu hiệu như: sốt, đau bụng, chảy máu nhiều từ âm đạo (nhiều hơn một lần hành kinh)... cần phải đến ngay cơ sở y tế để được khám và điều trị, vì đó là những dấu hiệu nguy hiểm, chứng tỏ có thể có những biến chứng.
Để phòng các biến chứng do nạo phá thai, trước hết phải tránh có thai ngoài ý muốn (phương pháp này áp dụng cả với nam giới và nữ giới). Việc nạo phá thai phải được tiến hành ở cơ sở y tế, trong điều kiện vệ sinh an toàn. Sau bất kỳ một lần nạo phá thai nào cũng phải dùng kháng sinh để phòng nguy cơ nhiễm khuẩn. Khi có bất kỳ một dấu hiệu nào bất thường sau khi nạo phá thai, phải khuyến khích người bệnh đến với thầy thuốc. Không nên vì xấu hổ, hay vì bất cứ lý do nào mà tự ý mua thuốc điều trị.
Theo BS. Trần Thu Phương
Sức khỏe và Đời sống
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Trẻ sinh mổ dễ có nguy cơ mắc bệnh hen cao. Đây là kết luận của các nhà khoa học thuộc Viện Sức khỏe cộng đồng Na Uy sau khi nghiên cứu dữ liệu từ 1,7 triệu ca sinh nở, theo Hãng tin ANI.

Các chuyên gia nhận thấy ở những trẻ sinh mổ, nguy cơ mắc bệnh hen tăng 50% so với những trẻ sinh thường. Theo nhóm nghiên cứu, nguyên do là trẻ sinh mổ đã thiếu tiếp xúc với vi khuẩn của mẹ khi chào đời, vốn cần thiết cho sự phát triển của hệ miễn dịch. Nguyên nhân thứ hai là trẻ sinh mổ ít tiếp xúc với các hormone tạo áp lực, sức ép và thiếu quá trình ép ngực, vốn có tác dụng giúp tống khứ nước ối trong phổi của trẻ. Những nguyên nhân kể trên có thể đã ảnh hưởng xấu đến chức năng phổi trong thời gian dài, qua đó làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

(Theo Vndoc.com - Thanh niên)


-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Sáng ngày 14-5, Ban giám đốc Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương đã xin lỗi gia đình chị Hoàng Thị Vượng (khu phố Thống Nhất, Dĩ An, Bình Dương) về vụ việc “cháu bé chết trong bụng sản phụ”.

Anh Vũ Mạnh Khang (chồng chị Vượng) cho biết: đưa vợ đến khoa sản ngày 11-5 nhưng do bệnh viện quá tải nên phải nằm ngoài mái hiên bệnh viện chờ sinh. Gia đình thấy lo vì chị đã từng sẩy thai, sinh khó nên đã yêu cầu được mổ nhưng các bác sĩ vẫn thờ ơ, khám qua loa và khăng khăng thai nhi bình thường, không cần mổ nên cứ nằm chờ. Đến tối ngày 13-5, khi chị Vượng đau bụng quằn quại, các bác sĩ mới tiến hành mổ thì cháu bé đã chết trong bụng mẹ. Không những thế chị Vượng còn lâm vào tình trạng nguy kịch và phải cắt tử cung (không còn khả năng sinh con).

Sáng cùng ngày, bác sĩ Hàn Khởi Quang, phó giám đốc bệnh viện cho biết: ca sinh này diễn biến khá phức tạp, chuyển dạ không kéo dài. Trước mắt chúng tôi sẽ hỗ trợ gia đình lo an táng cho cháu bé, miễn toàn bộ viện phí điều trị cho chị Vượng và sẽ bàn hướng hỗ trợ cho gia đình, rồi sau đó sẽ họp Hội đồng khoa học kỹ thuật và tiến hành kiểm điểm trách nhiệm.&nbsp;

(Vndoc.com - Theo TT)


VNDOC.COM - BS MANH HA

VNDOC.COM - có bài mới: 1. Thấy phụ nữ yếu nhưng mà mạnh đó nghen 2. Chơi xấu, trật ngón chân cái 3. Người có 3 quả tim 4. Rối loạn kinh nguyệt sau khi sinh. Chú ý vào trang web bằng trình duyệt Opera nhanh hơn IE nhiều !!!


My World Visitor Profile Map
-->đọc tiếp...

| 1 tin nhắn ]




“Với những phụ nữ không lập gia đình riêng hoặc gặp hoàn cảnh đặc biệt nhưng vẫn muốn có con, Bệnh viện Phụ sản TƯ sẽ cung cấp tinh trùng của những người hiến tặng giúp họ toại nguyện”. TS Nguyễn Viết Tiến, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản TƯ cho biết:

Pháp luật không ngăn cấm&nbsp;

Thưa TS, trong điều kiện xã hội hiện nay, có một số phụ nữ không muốn lập gia đình nhưng vẫn muốn có con. Với nhu cầu này, họ có thể đến bệnh viện nhờ giúp cung cấp tinh trùng tại Ngân hàng của Bệnh viện?&nbsp;

Luật pháp không ngăn cấm những người phụ nữ độc thân có con. Khi những đối tượng này tìm đến với những mong muốn và nhu cầu thực sự thì Viện chúng tôi sẽ tiến hành xác minh hoàn cảnh rồi tiến hành lấy tinh trùng trong Ngân hàng để cấy với noãn của người phụ nữ đó trong ống nghiệm - phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON), giúp họ thực hiện mong muốn có con.&nbsp;

Đương nhiên, trước đó người phụ nữ sẽ phải trải qua các xét nghiệm nhằm sàng lọc nguy cơ về các bệnh truyền nhiễm.&nbsp;

Tuy nhiên, đến nay, những đối tượng như vậy tìm đến Viện chưa nhiều. Ngân hàng của Viện vẫn chủ yếu cung cấp tinh trùng cho những cặp vợ chồng muốn có con, nhưng người chồng không có khả năng cung cấp tinh trùng hoặc tinh trùng không đảm bảo chất lượng.&nbsp;

Được biết, Viện không có chủ trương mua tinh trùng từ bên ngoài như một số nơi đã làm. Vậy, nguồn “giống” trong Ngân hàng của bệnh viện được duy trì bằng cách nào. Số lượng hiện đủ để đáp ứng nhu cầu của những người cần?&nbsp;

Vì là bệnh viện nhà nước nên chúng tôi không có khoản kinh phí nào dành cho việc mua tinh trùng. Vì vậy, Viện chỉ có thể nhận của những người có nhu cầu tự nguyện hiến. Nhưng quả thực, nguồn này rất ít. Hiện, nguồn cung cấp chính cho Viện vẫn là từ các bệnh viện quân đội. Chính vì vậy, nguồn cung vẫn có thể đáp ứng đủ nguồn cầu.&nbsp;

Số tinh trùng được hiến tặng đó được sử dụng ra sao? Chắc hẳn chúng phải trải qua các cuộc xét nghiệm và sàng lọc?&nbsp;

Đúng vậy, khi nhận được tinh trùng hiến tặng, chúng tôi sẽ tiến hành các xét nghiệm cần thiết nhằm sàng lọc các loại bệnh truyền nhiễm như: Giang mai, HIV, bệnh di truyền... Số khoẻ mạnh sẽ được chúng tôi bảo quản lạnh trong Ngân hàng và đem sử dụng khi cần.&nbsp;

TTTON có an toàn?&nbsp;Thưa TS, hiện nay, có một số thông tin cho rằng trẻ sinh bằng phương pháp TTTON dễ bị mắc các dị tật bẩm sinh hoặc bất thường về giới tính?&nbsp;

Xin khẳng định, những trường hợp được thụ thai tự nhiên và những đứa trẻ sinh ra bằng phương pháp TTTON đều có nguy cơ mắc bệnh hoặc dị tật như nhau. Về giới tính, trẻ cũng không bị ảnh hưởng. Bởi lẽ, trong quá trình thụ tinh không hề có sự tác động vào tinh trùng và trứng. Quá trình này hoàn toàn tự nhiên, như có thai thông thường.&nbsp;

Một số người lo ngại quá trình dùng thuốc kích thích trước đó có thể làm ảnh hưởng đến chất lượng của phôi thai. Tuy nhiên, không có chuyện như vậy, bởi đã bước vào thời lấy noãn ra ngoài để TTTON thì đã bước vào thời kỳ thuốc sử dụng đã đào thải hết. Quá trình phát triển tim thai cũng không chịu tác động nào của thuốc hoặc hoá chất.&nbsp;

Hiện tượng trẻ có bất thường về giới tính chủ yếu là do di truyền hoặc do thời kỳ phát triển thai và hình thành giới tính (đặc biệt là thời kỳ thai dưới 3 tháng).&nbsp;

Đã từng một số đứa trẻ ra đời bằng phương pháp TTTON bị mù hoặc xơ hoá võng mạc. Vì sao lại xảy ra hiện tượng này, thưa TS?&nbsp;

Cũng có những trường hợp thụ tinh trong ống nghiệm bị dị tật do tinh trùng của chồng hoặc hoặc noãn của vợ được chẩn đoán có quá nhiều bất thường. Những cặp vợ chống này phải chấp nhận nguy cơ thai bị dị dường hoặc bất thường cao hơn so với những cặp vợ chồng không có bệnh lý.&nbsp;

Bệnh lý mù hay xơ hoá võng mạc thường gặp ở những đứa trẻ sinh non (thiếu tháng) nên có thể phát triển chưa toàn diện và dễ bị bệnh lý về mắt.&nbsp;

Một nguyên nhân nữa khiến trẻ sinh thiếu tháng dễ bị xơ hoá võng mạc là do hít nhiều khí ôxy trong quá trình nuôi trong lồng kính.&nbsp;

Điều đáng mừng là y học hiện đại đã áp dụng công nghệ laze và đã có thể chữa được những bệnh lý về mắt trong đó có chứng xơ hoá võng mạc.&nbsp;

Những phụ nữ lớn tuổi (trên 40) làm TTTON thường dễ xảy ra đẻ non. Điều này có đúng không thưa TS?&nbsp;

Không chỉ phụ nữ lớn tuổi làm TTTON mà phụ nữ mang thai bình thường cũng phải đối mặt với nguy cơ đẻ non cao hơn so với sản phụ ở lứa tuổi từ dưới 40.&nbsp;

Bên cạnh đó, phụ nữ càng nhiều tuổi thì xác suất gặp dị tật khi mang thai càng lớn.&nbsp;

Rất nhiều người quan tâm đến chi phí của một ca TTTON và tỷ lệ thành công?&nbsp;

Tỷ lệ chung của Viện Phụ sản TƯ hiện đạt 30 - 45% (bằng so với tỷ lệ trên thế giới). Sự thành công trong các ca TTTON thường phụ thuộc khá nhiều vào tuổi tác, phụ nữ càng trẻ thì tỷ lệ thành công càng cao, do nội tiết của họ dồi dào hơn so với những người lớn tuổi.&nbsp;

Chi phí để làm TTTON từ 30 - 50 triệu đồng/lần. Nếu thất bại ở lần thứ nhất, lần TTTON thứ hai sẽ rẻ hơn vì giảm được những chi phí xét nghiệm ban đầu.&nbsp;

Xin cảm ơn TS!

(VNDOC 's Blog - Theo&nbsp; DT)


My World Visitor Profile Map
-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]

Chiều 9-4, bác sĩ Trần Văn Tý - giám đốc Sở Y tế Phú Yên - đã đến thăm, trao hỗ trợ 20 triệu đồng cho sản phụ Nguyễn Thị Mùa (36 tuổi, ở khu phố Vạn Phước, thị trấn Sông Cầu, huyện Sông Cầu, Phú Yên) - người đang suy kiệt nghiêm trọng do bị phẫu thuật đến năm lần trong ba tuần do sự tắc trách của bệnh viện.

Trong số tiền này gồm 15 triệu đồng xuất từ công quĩ của ngành y tế, còn lại của hai thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến, Cao Minh Quang và giám đốc Sở Y tế Phú Yên giúp đỡ.&nbsp;

Bác sĩ Tý khẳng định: dấu hiệu sai sót của các y bác sĩ trong khi phẫu thuật và khâu nhầm niệu quản đối với sản phụ Nguyễn Thị Mùa đã rõ, những người trực tiếp thực hiện ca mổ phải chịu trách nhiệm. Trong tuần tới, Hội đồng Khoa học kỹ thuật ngành y tế Phú Yên sẽ tiến hành cuộc họp để phân tích, đánh giá nhằm rút kinh nghiệm chung và để có cơ sở xử lý sai phạm.&nbsp;

Trước mắt, Sở Y tế Phú Yên đã yêu cầu Bệnh viện Đa khoa Phú Yên, Bệnh viện huyện Sông Cầu cử y bác sĩ trực tiếp chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân Nguyễn Thị Mùa, tuyệt đối không để xảy ra nhiễm trùng bội nhiễm.

Bày tỏ thái độ về vụ việc trên, bà Cao Thị Hòa An - chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Phú Yên - nói: “Hội Liên hiệp phụ nữ Phú Yên đã chỉ đạo Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Sông Cầu thực hiện nhiều biện pháp thiết thực giúp đỡ chị Mùa. Chúng tôi thấy lãnh đạo ngành y tế Phú Yên đã nhận trách nhiệm là tỏ thái độ cầu thị đúng mực. Là một tổ chức bảo vệ cho quyền lợi phụ nữ, chúng tôi đề nghị ngành y tế không chỉ hỗ trợ về kinh phí chữa trị bệnh mà còn có biện pháp chuyên môn cần thiết để nhanh chóng phục hồi sức khỏe cho chị Mùa. Về phía các bệnh viện, chúng tôi đề nghị cần cân nhắc lại thái độ cho nghiêm túc, cần nhìn thẳng vào sự thật để rút kinh nghiệm, tránh sai sót về sau”.

Được biết hiện nay nhiều tổ chức đoàn thể, cá nhân ở Phú Yên đang tiếp tục vận động quyên góp để giúp đỡ chị Nguyễn Thị Mùa.

(VNDOC 's Blog - Theo TT)


-->đọc tiếp...

| 0 tin nhắn ]




Chiều 8-4, trao đổi với báo chí, bác sĩ Trần Văn Tý - giám đốc Sở Y tế Phú Yên - thừa nhận ngành y tế Phú Yên đã sai sót về chuyên môn trong phẫu thuật đối với sản phụ Nguyễn Thị Mùa (36 tuổi, ở thị trấn Sông Cầu, huyện Sông Cầu, Phú Yên) khiến bệnh nhân này đang bị suy kiệt nghiêm trọng.

Trước mắt, ngành y tế Phú Yên sẽ chịu mọi phí tổn để chăm sóc y tế, đảm bảo phục hồi sức khỏe cho bệnh nhân này.

"Kỷ lục" bị mổ

Sáng 18-1, chị Nguyễn Thị Mùa nhập viện tại Bệnh viện Sông Cầu để sinh đứa con thứ ba. Do suốt buổi sáng không sinh thường được, đến 16 giờ cùng ngày, Bệnh viện huyện Sông Cầu mổ lấy thai. Cháu bé gái an toàn nhưng chị Mùa ra quá nhiều máu. Ngay trong đêm 18-1, Bệnh viện huyện Sông Cầu mổ tiếp lần thứ hai đối với chị Mùa. 3 giờ sáng ngày 19-1, chị Mùa được chuyển cấp cứu đến Bệnh viện Đa khoa Phú Yên. Ngày 20-1, chị Mùa phải mổ lần thứ ba tại Bệnh viện Đa khoa Phú Yên.

Sau hơn mười ngày theo dõi, điều trị không giảm, ngày 31-1, Bệnh viện Đa khoa Phú Yên chuyển chị Mùa vô Bệnh viện Chợ Rẫy (TP.HCM). Tại đây, chị Mùa tiếp tục bị mổ hai lần nữa, tức chỉ trong ba tuần chị Nguyễn Thị Mùa bị phẫu thuật đến năm lần. Hiện nay, chị Mùa đang nằm một chỗ tại nhà trong tình trạng suy kiệt nghiêm trọng. Chị không thể ngồi dậy được, hoạt động bài tiết từ cơ thể phải thông qua một ống dẫn lưu từ trong bụng.

Do khâu nhầm niệu quản

Hiện hoàn cảnh gia đình chị Nguyễn Thị Mùa rất khó khăn. Đến chiều 8-4, nhiều tổ chức, cá nhân đã giúp đỡ chị Nguyễn Thị Mùa tổng cộng 26 triệu đồng. Bà Trần Thị Trung Chiến, nguyên bộ trưởng Bộ Y tế, chủ tịch Hội Vòng tay nhân ái - cho biết sẽ giúp đỡ kinh phí để phẫu thuật đưa niệu quản và hậu môn nhân tạo vô trong ổ bụng cho chị Mùa.


Sau khi sự việc xảy ra, cả Bệnh viện huyện Sông Cầu và Bệnh viện Đa khoa Phú Yên đều từ chối trách nhiệm. Mãi đến gần đây, qua kiểm tra, Sở Y tế Phú Yên đã khẳng định đây là sai sót của ngành y tế. Bác sĩ Tý cho biết: Qua kiểm tra, xác định trường hợp sản phụ Nguyễn Thị Mùa là ca sinh khó. Bệnh viện huyện Sông Cầu theo dõi thấy bệnh nhân không sinh được nên hội chẩn tiến hành mổ để cứu sản phụ và thai nhi.

Tuy nhiên, sau khi phẫu thuật, bệnh nhân xuất huyết trong tử cung nên kíp mổ tiếp tục hội chẩn lần hai, xác định nguyên nhân là do cổ tử cung co chậm, do đó đã quyết định cắt bỏ tử cung bán cầu. Với hội chẩn này, Bệnh viện huyện Sông Cầu điện cho Bệnh viện Đa khoa Phú Yên cử bác sĩ có chuyên môn đến hỗ trợ. Tuy nhiên, trong vụ việc này, giữa Bệnh viện huyện Sông Cầu và Bệnh viện Đa khoa Phú Yên có báo cáo khác nhau.

Trong thực tế, cổ tử cung của sản phụ có thai hoặc sản phụ sau khi sinh rất lớn, nên muốn cắt bỏ tử cung phải bóc tách buồng trứng. Quá trình bóc tách buồng trứng đó có sai sót trong chuyên môn là khâu nhầm niệu quản. Sau lần phẫu thuật cắt bỏ tử cung bán cầu, bệnh nhân có dấu hiệu nước tiểu không thoát ra ngoài được, ứ nước ở thận khiến niệu quản hoại tử và dẫn đến tai biến.

Bác sĩ Tý khẳng định: “Đây là sai sót trong kíp mổ của Bệnh viện huyện Sông Cầu và Bệnh viện Đa khoa Phú Yên. Thay mặt ngành y tế Phú Yên tôi xin nhận trách nhiệm này. Chúng tôi xác định ngành y tế phải tập trung giải quyết hậu quả, tạo điều kiện tốt cho bệnh nhân điều trị. Chúng tôi đã chỉ đạo Bệnh viện Đa khoa Phú Yên theo dõi tình hình tai biến của bệnh nhân để xử lý kịp thời, tránh trường hợp để bệnh nhân bị nhiễm trùng, ô nhiễm”.

Bác sĩ Tý cho biết thêm Sở Y tế Phú Yên đã tiến hành họp Hội đồng khoa học kỹ thuật ngành để làm rõ nguyên nhân dẫn đến sai sót này, từ đó rút kinh nghiệm trong toàn ngành. Hiện Bệnh viện Đa khoa Phú Yên đã đề nghị gia đình đưa chị Nguyễn Thị Mùa vào bệnh viện này chăm sóc y tế để đảm bảo sức khỏe trước khi trở lại Bệnh viện Chợ Rẫy để phẫu thuật lần thứ sáu.

(VNDOC 's Blog - Theo TT)

-->đọc tiếp...

| 2 tin nhắn ]




Dù nguy hiểm, nhiều sản phụ vẫn chọn sinh mổ để tránh đau đớn và được sinh con vào “ngày tốt”.&nbsp;Việc tránh đau đớn khi sinh nở vẫn là điều mong mỏi của các sản phụ và đôi khi hoàn cảnh - ít ra là trong các nước đang phát triển...

Từ ca đầu tiên&nbsp;

Vào năm 1500, vợ ông Jacob Nufer ở một thị trấn tại Thụy Sĩ chuyển dạ nhưng không sinh được và có nguy cơ tử vong. Hơn mười bà đỡ của thị trấn đã cố giúp bà nhưng không được và vì không có bác sĩ ở địa phương, chồng bà - làm nghề hoạn lợn - liều mổ vợ để lấy con ra. Vào thời ấy, khó có người sống sót sau một cuộc giải phẫu như vậy, nên hai vợ chồng đã nói lời vĩnh biệt trước khi ông Jacob Nufer tiến hành cuộc mổ.&nbsp;

Kết quả, hai mẹ con đều khỏe mạnh. Ca mổ thành công nhờ thể trạng tốt của sản phụ và tay dao khéo của người chồng, nhưng phần lớn là nhờ người vợ có thai ngoài tử cung. Nếu mang thai bình thường, chắc bà Nufer đã chết vì xuất huyết ồ ạt do vách tử cung bị phá. Ca mổ này được đa số các nhà khoa học cho là ca sinh mổ đầu tiên trên thế giới.&nbsp;

Dễ dàng như... nhổ răng

500 năm sau, sinh mổ đã trở nên dễ dàng và phổ biến như... chuyện nhổ răng. Tại Chile, đất nước có tỉ lệ sinh mổ cao nhất hành tinh, sinh mổ chiếm tới 40% toàn bộ các ca sinh nở. Nhưng xét về khu vực, châu Á lại là nơi có nhiều ca sinh mổ nhất, nhất là Hàn Quốc (36,4% trong năm 2006), Đài Loan (33%), Singapore (30%) và Trung Quốc (26%). Thống kê chưa chính thức của Tổng Y viện Bangkok cho biết tỉ lệ sinh mổ toàn quốc là 65%.

Vì việc sinh mổ liên quan đến tỉ lệ tử vong cao của sản phụ và các vấn đề sức khỏe khác, các con số trên là đáng báo động. Sự lo lắng càng nghiêm trọng khi các thống kê mới đây tại Mỹ cho thấy sự gia tăng tỉ lệ sinh mổ - hiện là 31%, tăng 50% so với cách đây mười năm - trùng hợp với gia tăng tỉ lệ tử vong của bà mẹ (mặc dù mối liên hệ này chưa rõ ràng tuyệt đối). Cứ 100.000 ca sinh ở Mỹ năm 2003 có 12,1 bà mẹ tử vong - lần đầu tiên vượt số 10 trong vòng 26 năm.&nbsp;

Năm 2004, con số này là 14. Sau mười năm nghiên cứu, giáo sư Eugene Declercq thuộc Trường Y của Đại học Boston thừa nhận “có bằng chứng hiển nhiên về tỉ lệ tử vong cao trong các trường hợp sinh mổ với các bà mẹ có rủi ro thấp”, và ông gợi ý phụ nữ nào muốn sinh mổ cần tự hỏi tại sao trong khi “bà và con bà đều khỏe mạnh”.&nbsp;

Cần nhớ là việc sinh con bình thường không phải lúc nào cũng là chọn lựa hấp dẫn. Với đa số phụ nữ, việc sinh con tự nhiên là một trong các nỗi đau đớn thân xác nặng nề nhất mà họ có thể trải qua, trừ các tai nạn lớn. Thời gian đau đẻ của lần sinh đầu khoảng 7-12 giờ, nhưng có thể kéo dài đến 20 giờ hay lâu hơn nữa. Nhìn cách nào đó, việc sinh con cũng giống một ca cấp cứu.&nbsp;

Thật ra, nếu không có sự can thiệp y học, trong 67 ca sẽ có một ca tử vong. Việc sợ đau đớn khi sinh nở là chính đáng và người ta không lấy làm lạ khi thấy nhiều sản phụ chọn cách sinh mổ mà thời gian sinh chỉ kéo dài khoảng 40 phút. Khi chi phí không còn là vấn đề, các bà thích sinh mổ hơn. Tại Hong Kong, tỉ lệ sinh mổ ở các bệnh viện tư là hơn 45%, còn tại đại lục là 27%. Họ cũng muốn xác định ngày giờ sinh để xin phép nghỉ hộ sản và xin sinh mổ vào những ngày tốt theo tử vi.

Và những hậu quả

Tuy nhiên, việc sinh mổ không phải không có trở ngại và ca mổ kết thúc với mối dây may cuối cùng ở bụng dưới. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đề nghị bà mẹ cho trẻ bú trong vòng một giờ sau khi sinh, vì các kháng thể quan trọng và protein bảo vệ - sự tạo miễn dịch đầu đời - được cung cấp qua các giọt sữa quí báu đầu tiên. Nhưng việc cho con bú sẽ khó khăn nếu bà mẹ chỉ vừa tỉnh lại, chưa kể những trường hợp mê man nhiều giờ sau khi mổ.&nbsp;

Trong những ngày sau khi mổ, phụ nữ có nguy cơ cao về huyết học hoặc bị nhiễm trùng. Đây là vấn đề chung cho mọi cuộc giải phẫu, nhưng cũng có nghĩa là sinh mổ có nguy cơ tử vong cao hơn sinh con tự nhiên. Con số 12,1 bà mẹ tử vong trong mỗi 100.000 ca sinh ở Mỹ năm 2003 có thể trở thành con số 36 nếu chỉ xét riêng số sinh mổ - và sự khác biệt, theo tạp chí Obstetrics and Gynecology, “có thể được gán cho chính việc giải phẫu”.&nbsp;

Cuối cùng, những phụ nữ sinh mổ sẽ gặp phải khả năng giảm thụ thai, nếu muốn có thêm con. Một nghiên cứu năm 2004 cho thấy phụ nữ đã sinh mổ có vấn đề về mang thai nhiều gấp bốn lần so với phụ nữ sinh bình thường. Các phụ nữ sinh mổ cũng có thể gặp các nguy cơ có thai ngoài tử cung, nhau thai nằm không đúng chỗ gây chảy máu và nhiều rắc rối khác.&nbsp;

Và do vết sẹo sinh mổ lần trước có thể đứt khi sinh tự nhiên, kéo theo các hậu quả tai hại khác - nên các đứa con sau cũng phải được sinh mổ, và các nguy cơ lại gia tăng ở mỗi lần sinh. Giáo sư Tan Kok Hian của Bệnh viện phụ nữ và trẻ em KK ở Singapore nói: “Nếu không có lý do y khoa chính đáng để thực hiện sinh mổ, các sản phụ nên sinh con theo cách tự nhiên”.&nbsp;

Tự nhiên vẫn tốt hơn

Mặc dù có những nguy hiểm và trở ngại trong việc sinh mổ nhưng lại có rất ít nỗ lực về phía chính phủ nhằm giảm tỉ lệ sinh mổ cao ở châu Á. Một trong các thí dụ là vào năm 2004, chính quyền Hàn Quốc mở chiến dịch cổ vũ việc sinh con tự nhiên và mở nhiều lớp học tiền sinh sản, giúp phụ nữ học các kỹ thuật giảm đau lúc sinh con tự nhiên. “Nói chung, phụ nữ Hàn Quốc đã được giáo dục nhiều về vấn đề này - Kim Jae Sun, thuộc Cơ quan Bảo hiểm y tế Hàn Quốc nói - nhưng chiến dịch được tài trợ quá ít ỏi và lộn xộn”.

Tại Thái Lan, quan điểm bênh vực cho sinh đẻ tự nhiên không được nhiều người nghe theo. Bác sĩ Tanit Habanananda, thuộc Quĩ Vận động sinh con tự nhiên và cho con bú ở Thái Lan, nói: “Việc vận động này cũng giống như đẩy hòn đá lên dốc vậy. Chúng tôi thật nản lòng. Thật là dễ khi xin sinh mổ ở Thái Lan”.&nbsp;

Vợ ông, bác sĩ Melanie Habanananda, nói thêm: “Nếu bạn dùng từ ngữ “sinh đẻ tự nhiên” ở đây, người ta nghĩ rằng bạn muốn ngồi giữa đồng để sinh con. Việc sinh mổ đã trở thành mốt ở đây, nhất là các phụ nữ trung lưu”. Tại bệnh viện tư nhân Samitivej, Bangkok, 1/3 trẻ em ra đời bằng sinh mổ, mặc dù ở đây có một khu vực khoa sản được bác sĩ Tanit Habanananda thành lập để cổ vũ việc sinh con tự nhiên. Trong khi đó các bà mẹ nước ngoài, chiếm đa số ở Bệnh viện Samitivej, lại thích sinh con tự nhiên hơn.

Nói chung, các cơ sở y tế gặp khó khăn trong việc cổ vũ sinh con tự nhiên, trong đó có các lý lẽ về vấn đề nữ quyền - ở đây muốn nói đến các bác sĩ tìm cách giảm niềm tin của phụ nữ vào việc sinh con tự nhiên, nên phụ nữ xếp hàng sinh mổ và bệnh viện có thêm nguồn thu nhập. Bác sĩ Melanie Habanananda nói: “Tôi qui trách nhiệm cho các bác sĩ sản khoa. Họ không giúp sản phụ tin vào cơ thể của mình... Họ tạo một môi trường sợ hãi quanh việc sinh đẻ”. Tại Đài Loan, bác sĩ Kuo Su-chen, giáo sư khoa hộ sinh Trường Hộ sinh Đài Bắc, nói việc sinh mổ trở nên quen thuộc “vì các bác sĩ không đủ kiên nhẫn. Họ muốn ca mổ kết thúc nhanh”.&nbsp;

Xu hướng không cưỡng được

Việc tránh đau đớn khi sinh nở vẫn là điều mong mỏi của các sản phụ và đôi khi hoàn cảnh - ít ra là trong các nước đang phát triển - không giúp các bác sĩ đủ kiên nhẫn trong các ca sinh tự nhiên kéo dài.&nbsp;

“Tôi đến thăm vài bệnh viện và thấy chỉ 2-3 nhân viên trực và khoảng 20 sản phụ chờ sinh - không thể chờ 10-12 giờ cho mỗi ca được” - phát biểu của Manju Chhugani, nữ giảng viên khoa hộ sinh Đại học Jamia Hamdard ở New Delhi (Ấn Độ), thư ký của chi hội địa phương của Hội Nữ hộ sinh Ấn Độ, và là một chuyên viên chăm sóc y tế đã từng tổ chức nhiều cuộc hội thảo về sinh con tự nhiên.&nbsp;

Các nguyên nhân làm tăng tỉ lệ sinh mổ ở châu Á là không thể cưỡng lại được, cả từ phía cung và phía cầu của phương trình - và mặc dù các trở ngại y tế là có ý nghĩa, vẫn không đủ nghiêm trọng để thành sự răn đe cho các sản phụ. Khi kỹ thuật mổ được cải thiện và chi phí đã giảm nhiều, có lẽ các lý do để sinh con tự nhiên sẽ rất mơ hồ. Lúc ấy việc sinh con tự nhiên sẽ là chọn lựa của số ít người lãng mạn và giàu có mà thôi.&nbsp;
Khi nào nên sinh mổ?

Mổ lấy thai có chỉ định trong các trường hợp: mẹ có khung chậu hẹp, lệch, dị dạng đường sinh dục, bất thường cơn co tử cung, sinh khó do cổ tử cung có vết mổ cũ mà không có điều kiện sinh theo ngả âm đạo, chuyển dạ kéo dài, dọa vỡ tử cung...&nbsp;

Về phía thai nhi: thai to, ngôi thai bất thường, thai suy... hoặc do phần phụ của thai như sa dây rốn, nhau tiền đạo, nhau bong non. Mổ lấy thai là để cứu mẹ trong những trường hợp mẹ bị bệnh lý rất nặng - nếu để kéo dài thai kỳ có thể tử vong do sản giật, tiền sản giật nặng, bệnh tim... Hoặc khi thai bị suy nếu để tiếp tục có thể chết, nên phải can thiệp đưa ra ngoài may ra có thể cứu sống.&nbsp;

Mổ lấy thai có những nguy hiểm nhất định và có ảnh hưởng đến tương lai sản khoa của người mẹ. Sau mổ, nhiều trường hợp phải dùng kháng sinh nên mẹ ngại cho con bú, nguồn sữa giảm, phải mua sữa lại tốn kém. Trẻ sinh mổ sẽ không được hấp thu (qua bánh nhau) các yếu tố nội tiết, tăng trưởng và các vi khuẩn có lợi cho đường tiêu hóa so với trẻ sinh thường...&nbsp;

Vì vậy cần cân nhắc thật kỹ trước khi có chỉ định mổ lấy thai để tạo sự an toàn tối đa cho mẹ và con.

Sinh mổ &amp; nguy cơ cho cả mẹ lẫn con

Năm 2007, theo thống kê của Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản, tại TP.HCM trong số 127.090 ca sinh thì có đến 40.482 trường hợp sinh mổ, chiếm 31,85%. Số liệu này chưa phân tích cụ thể ở từng đơn vị bởi con số sinh mổ có bệnh viện (BV) trên 7.000 ca/năm, có BV 22.000 ca/năm. Đó là chưa nói đến các cơ sở y tế tư nhân, ở đó tỉ lệ sinh mổ còn nhiều hơn. Tại một số tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, tỉ lệ sinh mổ cũng “tăng tốc”, có BV tỉnh đã mổ trên 3.000 ca/năm.&nbsp;

Thời gian mổ lấy thai chỉ từ 15-30 phút so với một cuộc chuyển dạ để sinh thường có khi vài giờ đến 1-2 ngày, BV lại được tăng nguồn thu từ dịch vụ mổ, thuốc cho đến chi phí nằm viện dài ngày... Chi phí một ca sinh mổ hiện 5-10 triệu đồng, một số nơi thu tiền công mổ theo yêu cầu là 2 triệu đồng/ca.

Mỗi năm BV Nhi Đồng 1 đã cấp cứu khoảng 30 trường hợp trẻ sơ sinh suy hô hấp nặng do sinh mổ khi mới 36 tuần tuổi. Trẻ suy hô hấp do xẹp phổi - vì phổi không đủ chất surfactant giúp phổi nở ra. Chi phí điều trị để cứu sống các ca này từ vài chục triệu đến hàng trăm triệu đồng.&nbsp;

Thế nhưng tại sao nhiều sản phụ chọn “ngày giờ vàng”, chọn “bác sĩ ruột” để mổ lấy thai? Có người bảo sinh mổ nhẹ nhàng, đỡ những cơn đau quặn thắt và... an toàn! TS.BS Vũ Thị Nhung (BV Hùng Vương) cho biết:&nbsp;

- Nhiều sản phụ cứ lầm tưởng mổ lấy thai là an toàn tuyệt đối, nhưng thực tế tỉ lệ tử vong mẹ và tử vong chu sinh (trong vòng 28 ngày sau khi sinh) ở mổ lấy thai lại cao hơn so với sinh thường. Những nguy cơ trong mổ lấy thai là do tai biến khi gây tê, gây mê, vết mổ bị rách rộng gây chảy máu, tổn thương đường tiết niệu, thuyên tắc mạch, và đặc biệt là nhiễm trùng. Nhiễm trùng vết mổ tử cung sau sinh mổ thì sản phụ có thể bị băng huyết vài tuần sau. Nhiễm trùng mổ khiến vết mổ không lành, có khi gây hoại tử tử cung, muốn cầm máu và chấm dứt nhiễm trùng có khi phải cắt bỏ tử cung. Tai biến xa về sau còn phải kể đến bệnh lạc nội mạc tử cung, dính ruột, tắc ruột, tắc ống dẫn trứng gây vô sinh thứ phát.&nbsp;

Cần lưu ý sẹo mổ trên tử cung có thể... nứt trong những thai kỳ sau. Nếu không xử trí kịp thời có thể dẫn đến tử vong cả mẹ lẫn con, nhất là trong các trường hợp giữa hai lần mang thai quá gần (dưới hai năm). Với sản phụ đã sinh mổ lần một, đa số không dám để sinh thường lần hai. Do khi bước vào chuyển dạ, một số cơn gò đã làm bung tử cung nên chỉ một số cơ sở có điều kiện mới dám để theo dõi cho sinh thường, còn hầu như phải mổ lấy thai trên 90%.&nbsp;

(VNDOC 's Blog - Theo TT)
My World Visitor Profile Map
-->đọc tiếp...

/
Chào các bạn, bạn đã vào trang Benhtimmach.com chưa, đây là trang tư vấn sức khoẻ miễn phí chuyên sâu về lĩnh vực tim mạch click here